*Đặng thiên Sơn
Một trong bốn bài hát được trình bày trong buổi lễ đăng quang của tổng thống Obama, bài có ý nghĩa nhứt là bài At Last. Đây là bài hát do nhạc sĩ Mack Gordon và Harry Warren viết vào năm 1941, làm nhạc đệm cho phim Orchestra Wives. Bài này đã được nữ ca sĩ da đen Beyonce trình bày, khi ông Obama cùng vợ là bà Michelle bước ra sân khấu cùng nhảy để bắt đầu cho chương trình buổi lễ đăng quang vào ngày thứ Ba 21 tháng 01 năm 2009. Với giọng hát cất cao lanh lãnh, ca sĩ Beyonce đã diễn tả được tất cả ý nghĩa bên trong của bài hát. Mà ở đó, qua thuật ngữ, người nghe cảm nhận được sự thành đạt của con người sau một thời gian cố gắng.
Sự kiện thượng nghị sĩ Barrack Hussein Obama, dân da màu, thuộc giai cấp nô lệ. Hôm nay, nghiểm nhiên trở thành chủ nhân Tòa Bạch Ốc sau 223 (1776-2009) năm dựng nước của người da trắng, đã nói lên những gì bài At Last muốn diễn tả. Nhưng, ông Obama chưa ngừng tham vọng của mình tại đó. Ông còn muốn làm thêm một điều mà vị tổng thống tiền nhiệm Bill Clinton không làm được để bước hẳn… chân trái vào lịch sử Hoa Kỳ một cách vẻ vang hơn. Để thực hiện điều này, vừa nhậm chức với thời gian chỉ hơn nửa năm, nói nôm na là chưa ráo mực. Ông Obama đã tạo ra “cơn sốt” cho nước Mỹ qua Kế Hoạch Y Tế (Obama's Health Care Plan).
Phải nói rằng, đưa ra vấn đề cải tổ y tế lúc này, hiển nhiên Obama đang dẫn dắt quốc hội và dân chúng đi về một hướng khác. Đó là hướng Obama muốn mọi người quên đi đáp số bài toán kinh tế đang suy sụp như lời hứa lúc ra tranh cử, sau khi ông đã chi ra hết mấy ngàn tỷ đô la trong quỷ tiết kiệm, tiền hưu, tiền già của người dân.
Kế hoạch cải tổ y tế của tổng thống Obama không phải là đề tài mới, mà thuộc loại rượu cũ của tổng thống Bill Clinton, nhưng ông tổng thống này không làm được trọn vẹn để đem ra bán ngoài thị trường. Nay, Obama muốn chế biến lại và đựng trong một bình mới.
Với tình trạng thất nghiệp tràn lan, kinh tế suy thoái không biết đến chừng nào mới phục hồi. Nếu mọi người có được một bảo hiểm sức khỏe, thì còn gì bằng (?) Sự bén nhạy, tinh khôn của Barrack Obama là nhìn ra chỗ tâm lý này của con người. Tuy nhiên có bảo hiểm bằng cách nào, làm sao mà có và món hàng này của tổng thống Obama là hàng “Free” hay là hàng “On sale”? Muốn biết, xin hãy theo dõi những gì Obama trình bày.
Trong bài diễn văn đọc ngày 9 tháng 9 trước lưỡng viện quốc hội để kêu gọi sự ủng hộ của các nhà lập pháp, tổng thống Obama cho biết chính phủ sẽ thành lập một chương trình bảo hiểm y tế cho những người chưa mua bảo hiểm hoặc những ai không có chương trình Medicare hoặc Medicaid. Kế hoạch này không làm giảm quyền lợi của những người đang hưởng Medicare, mà chỉ là sự ngăn chận lãng phí, lạm dụng và gian lận. Đây là một chương trình bắt buộc, như lái xe phải mua bảo hiểm xe cộ. Người nào có lợi tức trên mức ấn định nghèo mà không mua bảo hiểm, thì sẽ bị phạt 950 đô-la một người và 3,8000 đô-la cho cả gia đình. Kế hoạch cải tổ y tế này, sẽ tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho các hãng xưỡng mua bảo hiểm cho nhân viên mình với giá rẻ. Kế hoạch sẽ đem lại cho hầu hết 45 triệu người không có bảo hiểm trở thành có bảo hiểm. Nếu dự luật được thông qua sẽ có khoảng 97% phần trăm dân Mỹ có bảo hiểm y tế. Chi phí thực hiện kế hoạch là 1,000 tỷ USD trong vòng 10 năm. Và cuối cùng ông Obama nhấn mạnh và khẳng định kế hoạch cải tổ không có ý tạo phúc lợi cho di dân bất hợp pháp trong mục đích chính trị như những kẻ xấu miệng, bảo thủ loan tin.
Trong bài diễn văn, ông Obama đã đem tên tuổi hai vị tổng thống tiền nhiệm ra vừa làm tấm chắn, vừa ngụ ý so sánh mình với hai vị tổng thống lỗi lạc kia. Đó là tổng thống thứ 32, Franklin Delano Roosevelt, thuộc đảng dân chủ. Ông Roosevelt là vị tổng thống Hoa Kỳ duy nhất đã tại chức hơn hai nhiệm kỳ từ năm 1933 đến năm 1945. Tổng thống Roosevelt được xem là một trong ba tổng thống kiệt xuất của Hoa Kỳ đứng bên cạnh các ông George Washington, vị tổng thống đầu tiên, một người không đảng phái và tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ là ông Abraham Lincoln thuộc đảng cộng hòa.
Trong thời kỳ kinh tế suy thoái của thập niên 1930, Roosevelt đã lập ra chương trình “New Deal” để cứu trợ thất nghiệp, cải tổ hệ thống kinh tế. Nhưng đáng kể nhứt trong di sản của ông là lập ra hệ thống an sinh xã hội và cuộc chỉnh lý thị trường tài chính “Wall Street”. Người thứ hai Obama đem ra làm bình phong trong bài diễn văn là tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ, ông Ronald Wilson Reagan thuộc đảng cộng hòa . Vị tổng thống này đã nỗi tiếng ngay trong bài diễn văn nhậm chức của mình ngày 20/1/1981. Ông Reagan đã nói: “Chính phủ không phải là giải pháp cho những vấn đề của chúng ta; mà chính phủ mới chính là vấn đề.” Là một tài tử đóng phim hạng B, ông Reagan bị coi là hoang tưởng khi đặt thành vấn đề “Stars War”. Nhưng trên thực tế, hiện nay, ý tưởng này của Reagan đã làm thay đổi toàn bộ cái nhìn trong chiến tranh, và cách hành xử của phần lớn thế giới. Ngoài ra, tổng thống Reagan còn đóng góp vào việc giải quyết chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản, khiến ông trở thành một trong những tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ. Ông Obama nhắc tới ông Roosevelt và Reagan là sự gián tiếp so sánh kế hoạch y tế của mình có giá trị lịch sử chẳng thua gì ai.
Cuối cùng, ông Obama đã không ngại ngùng dứt điểm bài diễn văn bằng những lời lẻ gay gắt, nẩy lửa: “Xin hiểu rõ, tôi sẽ không làm mất thì giờ vì những kẻ tính toán muốn hủy diệt kế hoạch này thay vì tán đồng nó…Tôi không đứng yên để đợi những kẻ chỉ vì đặc quyền đang xử dụng chiến thuật cổ điển để duy trì tình trạng y tế cũ”. Rồi Obama hằn học bồi thêm : “Nếu quí vị cố tình suy diễn sai lạc nội dung chương trình, tôi sẽ mời quí vị ra ngoài lề”. Và ông đã không ngần ngại nói thẳng, đối với những khuynh hướng cải cách xã hội này. Không phải ông là người đầu tiên bị chỉ trích, mà trước đó tổng thống Roosevelt đã từng bị kết án là có tư tưởng cộng sản.
Qua sự trình bày của ông Obama. Câu hỏi đặt ở đây là lấy ở đâu ra để có 1,000 tỷ đô la để thực hiện kế hoạch khi ngân khố trống rỗng, chính phủ đang in tiền không ngừng ? Để trả lời, ai cũng nhìn thấy muốn có 1,000 tỷ, chỉ còn cách duy nhứt là móc túi người dân bằng cách gia tăng các sắc thuế mà thôi. Đây cũng là lý do giải thích sự dằn co, trả treo tại quốc hội cả tháng nay và người dân xuống đường biểu tình phản đối tại nhiều nơi.
Người Mỹ là một dân tộc thích hàng “Free” và hàng “On sale”. Bảo hiểm do nhà nước quản lý với giá rẻ là giá hàng …“On sale”. Nhưng “On sale” bao nhiêu phần trăm? Kế hoạch của Obama không đưa ra được con số dù là… ước đoán. Nên đã khiến nhiều người chán ngấy và ngờ vực, đặc biệt là dân nghèo hồ nghi về miệng lưỡi của con người. Hơn nữa, lại là một người được khen là có tài ăn nói.
Phải nói rằng, hiện nay trên thế giới hệ thống y tế của Mỹ luôn đứng hàng đầu. Hàng năm chính phủ đài thọ 2 ngàn 200 tỷ đô la để lo việc chăm sóc y tế cho người dân. Con số này đã chiếm tỷ lệ 16% trong tổng số GDP quốc gia. Với số chi phí lớn lao như vậy, nhưng vẫn còn có gần 50 triệu người không có khả năng mua bảo hiểm y tế. Trong khi ấy những người có bảo hiểm, họ chỉ được hưởng một số dịch vụ nhất định không quá 25 triệu người. Như vậy thử hỏi, phải chăng kế hoạch y tế của Obama trong 10 năm tốn 1,000 tỷ để đem đến bảo hiểm đến cho mọi người là chuyện nói vậy nhưng không phải vậy? Nói vậy nhưng không phải vậy hàm ý đề cập đến việc không đúng với sự thật. Lý thuyết cộng sản đưa ra “làm theo năng xuất, hưởng theo nhu cầu” nghe qua rất hấp dẫn, nhưng là cái bánh vẽ. Vì nếu là bánh thực, thì không còn có ai cố gắng để làm việc.
Bánh vẻ lúc nào trông cũng ngon, đẹp mắt. Lời nói đường mật bao giờ nghe cũng bùi tai cho dù là lời nói dối, nhưng người ta vẫn thích nghe. Rồi đây, kế hoạch y tế của tổng thống Obama nếu được quốc hội thông qua có tốt đẹp như ý muốn của mọi người, hay chỉ là bánh vẻ thì thời gian sẽ trả lời. Nhưng nhìn hình ảnh gia đình bốn người da màu đứng trước một toà nhà trắng toát, người ta không thể phủ nhận đó là tấm gương phản chiếu hình ảnh mầu nhiệm, tuyệt vời của thể chế dân chủ, tự do. Đây là giá trị tuyệt đối trong tương đối mà mọi sắc dân đang cư ngụ tại Hoa Kỳ cần học hỏi, trong đó có thế hệ thứ hai của Cộng Đồng Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại.
• Đặng thiên Sơn (14/10/09)
Thursday, October 15, 2009
Sunday, October 11, 2009
Từ nghị quyết cờ vàng, xây tượng đài tại tiểu bang Wasington đến nghị quyết 36 của Việt Cộng
•Đặng thiên Sơn
Người ta còn nhớ vào ngày 05 tháng 2 năm 2004, ông Pam Roach, Thượng nghị sĩ tiểu bang Washington đã đưa ra thảo luận tại thượng viện tiểu bang này hai nghị quyết. Nghị quyết thứ nhất, công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa là biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản. Nghị quyết thứ hai, ủng hộ dự án xây tượng đài kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền dưới thời chính phủ VNCH.
Trước quyết định này, ngày 10-2-2004, đại sứ VC là Nguyễn Tâm Chiến đã vội vả viết một văn thư dài hai trang đánh máy gởi đến văn phòng Thượng nghị Sĩ Pam Roach để phản đối. Những luận cứ Nguyễn Tâm Chiến đưa ra đã chứng tỏ sự hiểu biết nông cạn của một cán bộ ngoại giao cao cấp VC về các thể chế chính trị trên thế giới. Trong thư phản đối, Nguyễn Tâm Chiến nói lòng vòng về quan hệ Mỹ - Việt và kể những thiện chí sau ngày hai nước thiết lập bang giao. Trong thư phản đối đó có ba điểm đáng chú ý, xin tóm lược như sau:
Thứ nhứt, Nguyễn Tâm chiến nói sau 30 năm cờ vàng ba sọc đỏ không còn là biểu tượng của chính quyền nước Việt Nam Cộng Hòa nữa, nên tiểu bang Washington công nhận cờ vàng và xây dựng tượng đài là hành động phủ nhận nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - một nước có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ từ năm 1995.
Thứ hai, Nguyễn Tâm Chiến cho biết từ khi có bang giao Mỹ -Việt, Việt Nam đã làm hết sức mình để quên quá khứ, nhìn về tương lai. Vì vậy, tiểu bang Washington vinh danh cờ vàng và cho xây tượng đài là dấu hiệu khơi lại quá khứ đau buồn và làm sống dậy hận thù giữa Mỹ và Việt Cộng.
Và điều thứ ba, trơ trẽn và sống sượng hơn khi Nguyễn Tâm Chiến nham nhở nói : “Với một chính sách vững chắn, Việt Nam hoan nghênh các hoạt động tham gia của người Mỹ gốc Việt trong việc mở rộng quan hệ qua lại có lợi giữa Việt Nam - Hoa Kỳ và sự hội nhập thiết thực của họ vào giòng chính trị chính của đời sống Hoa Kỳ. Việt Nam hy vọng mạnh mẻ rằng cộng đồng người Mỹ gốc Việt với khoảng gần 50 ngàn người đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, cũng sẽ tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác (As a consistent policy, Vietnam welcomes active participation by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial relationship between Vietnam and US and their effective integration into the mainstream of the US life. It is Vietnam's strong hope that the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of whom have chosen your State as their new home, will also adopt the spirit of friendship and cooperation.). Đoạn thư này, đã cho thấy Nguyễn Tâm Chiến không biết ngượng ngùng và sống sượng khi cho rằng những người Việt tỵ nạn CS - những kẻ đã bị Việt Cộng hành hạ, bắt bớ, giam cầm và cướp đoạt tài sản đến nỗi phải bỏ nước ra đi, là một bộ phận của nước Việt Nam Cộng Sản.
Hai tuần lễ sau, ngày 23-2-2004, từ văn phòng Thượng nghị sĩ Pam Roach, ông Terrell A. Minarcin viết thư trả lời Nguyễn Tâm Chiến. Với lời lẽ nhẹ nhàng, nhưng đanh thép như cha dạy con, ông Terrell A. Minarcin đã dạy tên cán bộ ngoại giao cao cấp VC một bài học đích đáng. Và cảnh cáo VC đừng can thiệp vào nội bộ của tiểu bang Washington.
Với tư cánh là một cư dân tiểu bang Washington, ông Terrell A. Minarcin cho Nguyễn Tâm Chiến biết người dân tại tiểu bang Washington không thể nào chấp nhận lá cờ máu của VC, vì đó là lá cờ đã gây ra cuộc chiến huynh đệ tương tàn, là lá cờ mang tinh thần diệt chủng. Ông Terrell A. Minarcin còn nhấn mạnh, vinh danh cờ VC là đồng lõa với tội ác và chống nhân loại nên dân tiểu bang Washington không thể làm điều này. Còn đối với việc xây tượng đài kỷ niệm, là sự bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với những người đã cống hiến sự hy sinh cao quý cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Riêng lá cờ vàng với ba sọc đỏ, ông Terrell A. Minarcin nhận xét chẳng những tiêu biểu cho chính nghĩa quốc gia của VNCH mà còn là biểu tượng đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Cuối cùng ông Terrell A. Minarcin cảnh cáo đại sứ VC đừng xen vào vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington và của những người Mỹ gốc Việt đã đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng cho tiểu bang.
Thư trả lời của ông Terrell A. Minarcin là một cái tát nẩy lửa vào mặt Nguyễn Tâm Chiến, cũng như dạy cho tập đoàn VC biết thêm về nền chính trị Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu được chính quyền Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ hay còn gọi là chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ, là một nước cộng hoà được thành lập bởi các tiểu bang, thì Nguyễn Tâm Chiến đã không lôi cái gọi là “bang giao Mỹ-Việt” ra … “làm việc’ với Thượng nghị sĩ Pam Roach . Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu được trên bình diện quốc tế Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hay nói cách khác chính quyền Hoa Kỳ chỉ là nhân tố chủ đạo của hệ thống chính quyền quốc gia, nhưng sự tự trị của từng tiểu bang là quyền Hiến định, thì không có vụ lôi vấn đề “bang giao Việt -Mỹ” ra làm căn bản để … “khiếu kiện”. Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu “cái chung” của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là một nước theo chủ nghĩa tự do, dân chủ, nhưng “cái riêng” là người dân trực tiếp chịu ảnh hưởng và chi phối bởi nền hành chánh với ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp của tiểu bang, quận hạt và thành phố, thì không ngu ngốc đến độ phản đối việc làm của các nghị sĩ tiểu bang khi dựa vào các quyết định của chính quyền trung ương. Sự phân quyền giữa trung ương và địa phương trong chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ, đã giải thích tại sao trên đất Mỹ nơi nào có Ban Đại Diện CĐVN là nơi đó có nghị quyết vinh danh cờ vàng, và những ngày lễ nêu cao chính nghĩa quốc gia VNCH đều được chính quyền địa phương tham gia, hổ trợ.
Thất bại trước việc ngăn cản nghị quyết cờ vàng, xây tượng đài tại tiểu bang Wasington, Việt Cộng vội vả tung ra kế hoạch gây rối loạn, phá hoại sức mạnh của CĐVNHN. Kế hoạch này gọi là “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây là “Nghị quyết 36” của VC được thứ trưởng Phan Diễn ký ngày 26/3/2004. Cái gọi là “Nghị quyết 36” đã chính thức chỉ thị cho VC nằm vùng tìm cách… “thôn tính” cộng đồng người Việt hải ngoại qua các lãnh vực Văn Hoá, Xã hội, Kinh tế và Chính trị.
Để thực hiện điều này, về phương diện Văn hóa, VC đã tạo ra hàng loạt những website internet, giao lưu văn hoá, văn nghệ , phát thanh, truyền hình nữa nạc nữa mở để tuyên truyền. Đối tượng VC nhắm đến là thế hệ thứ hai của người Việt tỵ nạn CS để phổ biến những văn hoá phẩm xuyên tạc lịch sử, thần tượng hóa Hồ Chí Minh, đồng thời bôi lọ cuộc chiến chính nghĩa mà quân dân VNCH đã tham dự vào. Về xã hội, VC cho “đẻ” ra thêm bằng cách tách ra làm hai các hội tương tế, hội ái hữu đồng hương, các hệ phái tôn giáo, nhà thờ mới, chùa mới để tạo ra sự chia rẻ, mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau trong cộng đồng. Về chính trị, VC cày người vào các cơ quan chính quyền địa phương qua hệ thống du học sinh tốt nghiệp xin ở lại làm việc, kết hôn với con cái những nạn nhân cộng sản để tạo ra sự tranh chấp trong gia đình người Việt quốc gia chân chính. Mặc khác VC tung cán bộ các cấp từ Chủ tịch nước, Thủ tướng, Bộ tưởng đến tép riu ra nước ngoài vừa du hí, rữa tiền vừa để tổ chức các buổi hội thảo nối nhịp cầu thông cảm trong và ngoài nước gây rối cộng đồng người Việt hải ngoại. Về kinh tế, VC dùng tiền ăn cắp trong ngân khố quốc gia, tiền cướp đoạt tài sản của người dân đem ra nước ngoài đầu tư cạnh tranh với những cơ sở thương mại của người Việt tỵ nạn đã mồ hôi, nước mắt trong mấy mươi năm cực nhọc mới có được. Với số tiền kếch sù tư bản đỏ VC muốn khống chế kinh tế của người Việt quốc gia hải ngoại. Trong khi ấy , VC kêu gọi người hải ngoại về nước đầu tư xây dựng lại đất nước là một sự trớ trêu, mâu thuẩn không thể nói hết được.
Sau hơn 5 năm cái gọi là “Nghị quyết 36” của VC ra đời, kiểm điểm lại Việt Cộng đã thu lượm được kết quả ra sao? Để trả lời câu hỏi này, thì một điều không thể phủ nhận là Việt Cộng chẳng thu lượm được kết quả khả quan nào trên 4 lãnh vực như ý họ mong muốn.
Đến nay, khi cờ máu VC xuất hiện nơi đâu là bị hạ xuống ngay lập tức. Đến nay, các tên VC Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đi đến đâu cũng phải cúi mặt trước rừng cờ vàng, ngoại trừ bọn người buôn dân, bán nước này sang triều cống Tàu Cộng phải đi khom lưng. Đến nay, với hơn trên 130 nghị quyết vinh danh cờ vàng tại Hoa Kỳ, và việc xây dựng tượng đài vinh danh chính nghĩa VNCH nhiều nơi trên thế giới từ Âu châu, Mỹ Châu và Úc Châu mỗi ngày mỗi gia tăng, đã chứng minh cho thấy không còn nghi ngờ gì nữa về sự thất bại của VC trong việc muốn nhuộm đỏ CĐVNHN qua cái gọi là “Nghị quyết 36”. Nhưng, điều quan trọng hơn hết là hình ảnh “trăm hoa đua nở” với sự hiện diện của thế hệ thứ hai bên cạnh cha, anh trong các Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam lưu vong, đã làm mạn lưới chống cộng của người Việt quốc gia tại hải ngoại thêm vững mạnh.
Đặng thiên Sơn
(07/10/09)
Người ta còn nhớ vào ngày 05 tháng 2 năm 2004, ông Pam Roach, Thượng nghị sĩ tiểu bang Washington đã đưa ra thảo luận tại thượng viện tiểu bang này hai nghị quyết. Nghị quyết thứ nhất, công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa là biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản. Nghị quyết thứ hai, ủng hộ dự án xây tượng đài kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền dưới thời chính phủ VNCH.
Trước quyết định này, ngày 10-2-2004, đại sứ VC là Nguyễn Tâm Chiến đã vội vả viết một văn thư dài hai trang đánh máy gởi đến văn phòng Thượng nghị Sĩ Pam Roach để phản đối. Những luận cứ Nguyễn Tâm Chiến đưa ra đã chứng tỏ sự hiểu biết nông cạn của một cán bộ ngoại giao cao cấp VC về các thể chế chính trị trên thế giới. Trong thư phản đối, Nguyễn Tâm Chiến nói lòng vòng về quan hệ Mỹ - Việt và kể những thiện chí sau ngày hai nước thiết lập bang giao. Trong thư phản đối đó có ba điểm đáng chú ý, xin tóm lược như sau:
Thứ nhứt, Nguyễn Tâm chiến nói sau 30 năm cờ vàng ba sọc đỏ không còn là biểu tượng của chính quyền nước Việt Nam Cộng Hòa nữa, nên tiểu bang Washington công nhận cờ vàng và xây dựng tượng đài là hành động phủ nhận nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - một nước có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ từ năm 1995.
Thứ hai, Nguyễn Tâm Chiến cho biết từ khi có bang giao Mỹ -Việt, Việt Nam đã làm hết sức mình để quên quá khứ, nhìn về tương lai. Vì vậy, tiểu bang Washington vinh danh cờ vàng và cho xây tượng đài là dấu hiệu khơi lại quá khứ đau buồn và làm sống dậy hận thù giữa Mỹ và Việt Cộng.
Và điều thứ ba, trơ trẽn và sống sượng hơn khi Nguyễn Tâm Chiến nham nhở nói : “Với một chính sách vững chắn, Việt Nam hoan nghênh các hoạt động tham gia của người Mỹ gốc Việt trong việc mở rộng quan hệ qua lại có lợi giữa Việt Nam - Hoa Kỳ và sự hội nhập thiết thực của họ vào giòng chính trị chính của đời sống Hoa Kỳ. Việt Nam hy vọng mạnh mẻ rằng cộng đồng người Mỹ gốc Việt với khoảng gần 50 ngàn người đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, cũng sẽ tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác (As a consistent policy, Vietnam welcomes active participation by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial relationship between Vietnam and US and their effective integration into the mainstream of the US life. It is Vietnam's strong hope that the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of whom have chosen your State as their new home, will also adopt the spirit of friendship and cooperation.). Đoạn thư này, đã cho thấy Nguyễn Tâm Chiến không biết ngượng ngùng và sống sượng khi cho rằng những người Việt tỵ nạn CS - những kẻ đã bị Việt Cộng hành hạ, bắt bớ, giam cầm và cướp đoạt tài sản đến nỗi phải bỏ nước ra đi, là một bộ phận của nước Việt Nam Cộng Sản.
Hai tuần lễ sau, ngày 23-2-2004, từ văn phòng Thượng nghị sĩ Pam Roach, ông Terrell A. Minarcin viết thư trả lời Nguyễn Tâm Chiến. Với lời lẽ nhẹ nhàng, nhưng đanh thép như cha dạy con, ông Terrell A. Minarcin đã dạy tên cán bộ ngoại giao cao cấp VC một bài học đích đáng. Và cảnh cáo VC đừng can thiệp vào nội bộ của tiểu bang Washington.
Với tư cánh là một cư dân tiểu bang Washington, ông Terrell A. Minarcin cho Nguyễn Tâm Chiến biết người dân tại tiểu bang Washington không thể nào chấp nhận lá cờ máu của VC, vì đó là lá cờ đã gây ra cuộc chiến huynh đệ tương tàn, là lá cờ mang tinh thần diệt chủng. Ông Terrell A. Minarcin còn nhấn mạnh, vinh danh cờ VC là đồng lõa với tội ác và chống nhân loại nên dân tiểu bang Washington không thể làm điều này. Còn đối với việc xây tượng đài kỷ niệm, là sự bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với những người đã cống hiến sự hy sinh cao quý cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Riêng lá cờ vàng với ba sọc đỏ, ông Terrell A. Minarcin nhận xét chẳng những tiêu biểu cho chính nghĩa quốc gia của VNCH mà còn là biểu tượng đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Cuối cùng ông Terrell A. Minarcin cảnh cáo đại sứ VC đừng xen vào vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington và của những người Mỹ gốc Việt đã đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng cho tiểu bang.
Thư trả lời của ông Terrell A. Minarcin là một cái tát nẩy lửa vào mặt Nguyễn Tâm Chiến, cũng như dạy cho tập đoàn VC biết thêm về nền chính trị Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu được chính quyền Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ hay còn gọi là chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ, là một nước cộng hoà được thành lập bởi các tiểu bang, thì Nguyễn Tâm Chiến đã không lôi cái gọi là “bang giao Mỹ-Việt” ra … “làm việc’ với Thượng nghị sĩ Pam Roach . Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu được trên bình diện quốc tế Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hay nói cách khác chính quyền Hoa Kỳ chỉ là nhân tố chủ đạo của hệ thống chính quyền quốc gia, nhưng sự tự trị của từng tiểu bang là quyền Hiến định, thì không có vụ lôi vấn đề “bang giao Việt -Mỹ” ra làm căn bản để … “khiếu kiện”. Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu “cái chung” của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là một nước theo chủ nghĩa tự do, dân chủ, nhưng “cái riêng” là người dân trực tiếp chịu ảnh hưởng và chi phối bởi nền hành chánh với ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp của tiểu bang, quận hạt và thành phố, thì không ngu ngốc đến độ phản đối việc làm của các nghị sĩ tiểu bang khi dựa vào các quyết định của chính quyền trung ương. Sự phân quyền giữa trung ương và địa phương trong chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ, đã giải thích tại sao trên đất Mỹ nơi nào có Ban Đại Diện CĐVN là nơi đó có nghị quyết vinh danh cờ vàng, và những ngày lễ nêu cao chính nghĩa quốc gia VNCH đều được chính quyền địa phương tham gia, hổ trợ.
Thất bại trước việc ngăn cản nghị quyết cờ vàng, xây tượng đài tại tiểu bang Wasington, Việt Cộng vội vả tung ra kế hoạch gây rối loạn, phá hoại sức mạnh của CĐVNHN. Kế hoạch này gọi là “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây là “Nghị quyết 36” của VC được thứ trưởng Phan Diễn ký ngày 26/3/2004. Cái gọi là “Nghị quyết 36” đã chính thức chỉ thị cho VC nằm vùng tìm cách… “thôn tính” cộng đồng người Việt hải ngoại qua các lãnh vực Văn Hoá, Xã hội, Kinh tế và Chính trị.
Để thực hiện điều này, về phương diện Văn hóa, VC đã tạo ra hàng loạt những website internet, giao lưu văn hoá, văn nghệ , phát thanh, truyền hình nữa nạc nữa mở để tuyên truyền. Đối tượng VC nhắm đến là thế hệ thứ hai của người Việt tỵ nạn CS để phổ biến những văn hoá phẩm xuyên tạc lịch sử, thần tượng hóa Hồ Chí Minh, đồng thời bôi lọ cuộc chiến chính nghĩa mà quân dân VNCH đã tham dự vào. Về xã hội, VC cho “đẻ” ra thêm bằng cách tách ra làm hai các hội tương tế, hội ái hữu đồng hương, các hệ phái tôn giáo, nhà thờ mới, chùa mới để tạo ra sự chia rẻ, mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau trong cộng đồng. Về chính trị, VC cày người vào các cơ quan chính quyền địa phương qua hệ thống du học sinh tốt nghiệp xin ở lại làm việc, kết hôn với con cái những nạn nhân cộng sản để tạo ra sự tranh chấp trong gia đình người Việt quốc gia chân chính. Mặc khác VC tung cán bộ các cấp từ Chủ tịch nước, Thủ tướng, Bộ tưởng đến tép riu ra nước ngoài vừa du hí, rữa tiền vừa để tổ chức các buổi hội thảo nối nhịp cầu thông cảm trong và ngoài nước gây rối cộng đồng người Việt hải ngoại. Về kinh tế, VC dùng tiền ăn cắp trong ngân khố quốc gia, tiền cướp đoạt tài sản của người dân đem ra nước ngoài đầu tư cạnh tranh với những cơ sở thương mại của người Việt tỵ nạn đã mồ hôi, nước mắt trong mấy mươi năm cực nhọc mới có được. Với số tiền kếch sù tư bản đỏ VC muốn khống chế kinh tế của người Việt quốc gia hải ngoại. Trong khi ấy , VC kêu gọi người hải ngoại về nước đầu tư xây dựng lại đất nước là một sự trớ trêu, mâu thuẩn không thể nói hết được.
Sau hơn 5 năm cái gọi là “Nghị quyết 36” của VC ra đời, kiểm điểm lại Việt Cộng đã thu lượm được kết quả ra sao? Để trả lời câu hỏi này, thì một điều không thể phủ nhận là Việt Cộng chẳng thu lượm được kết quả khả quan nào trên 4 lãnh vực như ý họ mong muốn.
Đến nay, khi cờ máu VC xuất hiện nơi đâu là bị hạ xuống ngay lập tức. Đến nay, các tên VC Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đi đến đâu cũng phải cúi mặt trước rừng cờ vàng, ngoại trừ bọn người buôn dân, bán nước này sang triều cống Tàu Cộng phải đi khom lưng. Đến nay, với hơn trên 130 nghị quyết vinh danh cờ vàng tại Hoa Kỳ, và việc xây dựng tượng đài vinh danh chính nghĩa VNCH nhiều nơi trên thế giới từ Âu châu, Mỹ Châu và Úc Châu mỗi ngày mỗi gia tăng, đã chứng minh cho thấy không còn nghi ngờ gì nữa về sự thất bại của VC trong việc muốn nhuộm đỏ CĐVNHN qua cái gọi là “Nghị quyết 36”. Nhưng, điều quan trọng hơn hết là hình ảnh “trăm hoa đua nở” với sự hiện diện của thế hệ thứ hai bên cạnh cha, anh trong các Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam lưu vong, đã làm mạn lưới chống cộng của người Việt quốc gia tại hải ngoại thêm vững mạnh.
Đặng thiên Sơn
(07/10/09)
Saturday, October 3, 2009
Chủ nghĩa CS và những kẻ bất thường trong một cộng đồng bình thường
•Đặng thiên Sơn
Trong cuốn sách viết bằng tiếng Pháp tựa đề “Le Livre Noir Du Communisme” ( Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản) dày 850 trang của nhà xuất bản Pháp Robert Laffont vào cuối năm 1997, nơi trang 4 đã thống kê số người trên thế giới bị sát hại tại các nước theo chủ nghĩa cộng sản như Liên Sô, Trung Cộng , Việt Nam, Bắc Hàn, Kamphuchia, Lào, Cuba, Mông Cổ và các nước Đông Âu … đã đưa ra nhiều chi tiết giết người rùng rợn, khủng khiếp trích ra từ những tài liệu chưa hề công bố. Số người chết khắp nơi được phân chia như sau:
- 60 triệu dân Trung Hoa
- 20 triệu dân Liên bang Sô viết Nga
- 2 triệu dân Kampuchia
- 2 triệu dân Bắc Hàn
- 1 triệu 700 ngàn dân Phi châu
- 1 triệu 500 ngàn dân A Phú Hãn
- 1 triệu dân thuộc các nước CS Đông âu
- 1 triệu dân Việt Nam
- 150 ngàn người Châu Mỹ Latin
Và 10 ngàn người khác bị giết do các phong trào CS và đảng CS không nắm quyền trên thế giới gây ra.
Trên đây chỉ là con số tổng kết khi cuốn “Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản” được xuất bản. Tới nay, mười hai năm sau, dĩ nhiên số nạn nhân bị giết vì chống lại chủ nghĩa tàn ác này tại các nước Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba còn nhiều hơn nữa. Riêng đối với Việt Nam ngoài 1 triệu người người vô tội bị Hồ chí Minh và VC sát hại, còn có hơn hai triệu người phải rời bỏ nơi chôn nhao, cắt rún sống lưu vong nơi xứ người.
Theo các tài liệu thì từ năm 1970 đến đầu năm 1975, số người Việt sống tại hải ngoại có khoảng 100 ngàn người. Đây là những người thuộc gia đình nhân viên công, tư chức làm việc cho Pháp nên đa số định cư tại Pháp. Ngoài thành phần vừa nói, còn một số nhỏ sống rãi rác tại các quốc gia Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện. Còn lại thì sống tại Hoa Kỳ, là vợ con lính Mỹ theo chồng về nước khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi chiến trường Việt Nam, và các nhân viên ngoại giao đoàn, nhân viên các hãng mậu dịch.
Sau ngày 30 tháng 4/1975, miền Nam lọt vào tay bạo quyền Việt Cộng. Hàng triệu người đã bỏ nước ra đi tìm tự do. Hành trình đi tìm tự do của người Việt Nam đã làm đảo lộn sự bình yên của thế giới, sau ngày chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt năm 1945. Hành trình này, đã viết thêm trang sử mới cho nhân loại về lòng khao khác tự do của con người. Đây là một bi hùng ca, một trang sử đầy máu và nước mắt, đã góp phần vào sử liệu thế giới về tội ác tày trời của chủ nghĩa cộng sản mà Việt Cộng đã nhúng tay vào.
Người Việt tìm tự do, được hưởng qui chế định cư trên căn bản nhân đạo tùy từng quốc gia. Riêng Hoa Kỳ là quốc gia ảnh hưởng trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, nên chính phủ này đã có những qui chế đặc biệt để giải quyết vấn nạn Việt Nam. Đầu tiên, những người Việt Nam tỵ nạn đặt chân lên Hoa Kỳ từ đảo Guam được chính phủ Hoa Kỳ cho định cư qua “Đạo luật Di Trú và Người Tỵ Nạn Đông Dương” (Indochina Migration and Refugee-Act) được Quốc Hội và Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford phê chuẩn trong tình trạng khẩn cấp.
Từ năm 1978-1980, người Việt bất kể sống chết ào ạt bỏ nước ra đi bằng mọi giá một cách liều lĩnh, đã trở thành một thảm kịch của thế kỷ 20. Thảm kịch này đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới phải rơi lệ. Trước thảm cảnh thương tâm, chính phủ Hoa Kỳ đã vội vả ban hành đạo luật “Refugee - Act” để nới rộng quy chế tỵ nạn. Đạo luật đã đem lại nhiều thuận lợi cho người Việt tạo dựng lại đời sống nơi quê hương thứ hai.
Vào năm 1989, khi Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn tại Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Hồng Kông. Số người vượt biên, vượt biển giảm dần và số người định cư tại Hoa Kỳ theo ngã này cũng từ từ chấm dứt. Tuy nhiên, ba hình thức định cư mới được mở ra. Đó là chương trình ra đi có trật tự ODP ( Orderly Departure Program), diện con Lai (Home Coming -Act) và diện H.O (Humanitarian Operation).
Người Việt Nam bỏ nước ra đi vì không chấp nhận chế độ Việt Cộng gian ác. Tư tưởng chính trị của họ đối lập với chủ nghĩa cộng sản nên họ định cư tại hải ngoại dưới danh nghĩa “tỵ nạn chính trị”. Với danh nghĩa này, cộng đồng VN hải ngoại trở thành Cộng Đồng Chống Cộng là điều tất yếu. Do đó, những cá nhân, những tổ chức, những đảng phái có những hành động và lời nói chống lại Cộng Đồng Chống Cộng, thì đây là những thành phần bất thường trong một cộng đồng bình thường.
Sinh hoạt Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại trên phương diện chính trị, là những sinh hoạt luôn nêu cao cờ vàng chính nghĩa ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ hoàn cảnh nào có thể được. Đây là hình ảnh trong tháng 9/2009 vừa qua đã đập vào mặt những tên bán nước, hại dân như Nông Đức Mạnh khi đến Úc để xin xỏ, Nguyễn tấn Dũng đến Đan Mạnh để cầu thân, và Nguyễn Minh Triết đến LHQ để… nói láo.
Nếu trong Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại có những thanh niên bình thường luật sư Trúc Celine Phạm vinh danh cờ vàng, cám ơn chính phủ Đức trong ngày lịch sử khánh thành tượng đài thuyền nhân tại hải cảng Humburg kỷ niệm ngày con tàu nhân đạo Cap Anamur ra khơi cứu người vượt biển. Các thiếu nữ trí thức trẻ trong BCH /CĐVN tại Boston, Massachusetts như Nguyễn Thị Cúc Nhật, Trần Đỗ Ngọc Lan, Trần Nguyên Anh đấu tranh cho nghị quyết cờ vàng. Các bác sĩ, luật sư, dược sĩ, kỷ sư, cử nhân, tiến sĩ trong Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc Cali tại Hoa Kỳ dấn thân xuống đường khi danh dự người Việt tỵ nạn bị chà đạp. Và Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng từ Mỹ Châu, Âu Châu, Úc Châu và hàng vạn thanh niên, thiếu nữ khác là những “trái ngọt” trong CĐVNHN thì những thanh niên, thiếu nữ bất thường như ông Brian Đoàn ở Nam Cali cặm cụi vẻ hình cờ đỏ sao vàng, nắn nót nặn tượng Hồ tặc vinh danh Việt Cộng và bà Madison Nguyễn nghị viên người Mỹ gốc Việt tại khu vực 7 thành phố San Jose, Bắc Cali tìm cách ngăn cản nghị quyết cờ vàng là những “trái đắng”, thì thật là điều mĩa mai, chua xót.
Ngoài hình thức nặn tượng Hồ tặc, ngăn cản nghị quyết cờ vàng, treo cờ máu tại các trường trung đại học, nơi du học sinh con cháu Việt Cộng theo học. Hoạt động của những kẻ bất thường chống những người chống cộng, là tiếp tay với VC tổ chức các buổi văn nghệ, giao lưu văn hóa, và các hình thức gây rối cộng đồng khác. Chẳng hạn như cái gọi là “Gặp gở Việt Nam” (Meet VietNam) dự định sẽ tổ chức hai ngày 15 và 16 tháng 11, 2009 tại San Francisco, Bắc Cali, Hoa Kỳ với sự hiện diện của tên Nguyễn Thiện Nhân, Phó thủ tướng VC sắp tới . Hình thức này là sự “khiêu khích” cộng đồng người Việt QG hải ngoại. Đây là chiến thuật “ da beo”, tổ chức “bậy bạ” hết chỗ này tới chỗ kia với mục đích làm vẫn đục sự trong sạch, tạo sự bất ổn trong cộng đồng chống cộng. Việt Cộng dùng chiến thuật như vậy, để làm mệt mõi tinh thần đấu tranh của người Việt hải ngoại. Đây là kế hoạch xâm nhập, phá hoại sức mạnh CĐVNHN theo nghị quyết 36 của chúng. Nhưng chúng sẽ thất bại!
Sau mấy mươi năm lưu vong nơi đất khách quê người, thế hệ thứ nhứt Việt Nam tỵ nạn cộng sản đã bắt đầu dần dần tàn phai theo năm tháng. Thế hệ thứ hai đã đơm bông, trổ trái. Tre già măng mọc. Đó là qui luật của tạo hoá.
Nếu trong vườn cây Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại có những “trái ngọt”, thì cũng không tránh khỏi có những “trái đắng” và những con hủi, con sâu, con rầy phá phách. Đối với “trái ngọt” là thành phần trẻ, thế hệ thứ nhứt phải biết thưởng thức với sự trân quí, phải biết loại bỏ những suy nghĩ đã làm mất nước. Đối với “trái đắng”, là những kẻ đang lội ngược giòng “Lịch Sử Chống Cộng” của người Việt lưu vong, nếu không muốn nói họ đang đồng lõa với tội ác. Sự loại bỏ những “trái đắng, con sâu, con rầy” này, nếu chẳng phải là việc làm, nhiệm vụ của riêng ai, thì chắc chắn đó phải là nhiệm vụ của tất cả mọi người trong cộng đồng người Việt quốc gia chân chính.
Đặng thiên Sơn (30/09/2009)
Trong cuốn sách viết bằng tiếng Pháp tựa đề “Le Livre Noir Du Communisme” ( Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản) dày 850 trang của nhà xuất bản Pháp Robert Laffont vào cuối năm 1997, nơi trang 4 đã thống kê số người trên thế giới bị sát hại tại các nước theo chủ nghĩa cộng sản như Liên Sô, Trung Cộng , Việt Nam, Bắc Hàn, Kamphuchia, Lào, Cuba, Mông Cổ và các nước Đông Âu … đã đưa ra nhiều chi tiết giết người rùng rợn, khủng khiếp trích ra từ những tài liệu chưa hề công bố. Số người chết khắp nơi được phân chia như sau:
- 60 triệu dân Trung Hoa
- 20 triệu dân Liên bang Sô viết Nga
- 2 triệu dân Kampuchia
- 2 triệu dân Bắc Hàn
- 1 triệu 700 ngàn dân Phi châu
- 1 triệu 500 ngàn dân A Phú Hãn
- 1 triệu dân thuộc các nước CS Đông âu
- 1 triệu dân Việt Nam
- 150 ngàn người Châu Mỹ Latin
Và 10 ngàn người khác bị giết do các phong trào CS và đảng CS không nắm quyền trên thế giới gây ra.
Trên đây chỉ là con số tổng kết khi cuốn “Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản” được xuất bản. Tới nay, mười hai năm sau, dĩ nhiên số nạn nhân bị giết vì chống lại chủ nghĩa tàn ác này tại các nước Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba còn nhiều hơn nữa. Riêng đối với Việt Nam ngoài 1 triệu người người vô tội bị Hồ chí Minh và VC sát hại, còn có hơn hai triệu người phải rời bỏ nơi chôn nhao, cắt rún sống lưu vong nơi xứ người.
Theo các tài liệu thì từ năm 1970 đến đầu năm 1975, số người Việt sống tại hải ngoại có khoảng 100 ngàn người. Đây là những người thuộc gia đình nhân viên công, tư chức làm việc cho Pháp nên đa số định cư tại Pháp. Ngoài thành phần vừa nói, còn một số nhỏ sống rãi rác tại các quốc gia Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện. Còn lại thì sống tại Hoa Kỳ, là vợ con lính Mỹ theo chồng về nước khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi chiến trường Việt Nam, và các nhân viên ngoại giao đoàn, nhân viên các hãng mậu dịch.
Sau ngày 30 tháng 4/1975, miền Nam lọt vào tay bạo quyền Việt Cộng. Hàng triệu người đã bỏ nước ra đi tìm tự do. Hành trình đi tìm tự do của người Việt Nam đã làm đảo lộn sự bình yên của thế giới, sau ngày chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt năm 1945. Hành trình này, đã viết thêm trang sử mới cho nhân loại về lòng khao khác tự do của con người. Đây là một bi hùng ca, một trang sử đầy máu và nước mắt, đã góp phần vào sử liệu thế giới về tội ác tày trời của chủ nghĩa cộng sản mà Việt Cộng đã nhúng tay vào.
Người Việt tìm tự do, được hưởng qui chế định cư trên căn bản nhân đạo tùy từng quốc gia. Riêng Hoa Kỳ là quốc gia ảnh hưởng trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, nên chính phủ này đã có những qui chế đặc biệt để giải quyết vấn nạn Việt Nam. Đầu tiên, những người Việt Nam tỵ nạn đặt chân lên Hoa Kỳ từ đảo Guam được chính phủ Hoa Kỳ cho định cư qua “Đạo luật Di Trú và Người Tỵ Nạn Đông Dương” (Indochina Migration and Refugee-Act) được Quốc Hội và Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford phê chuẩn trong tình trạng khẩn cấp.
Từ năm 1978-1980, người Việt bất kể sống chết ào ạt bỏ nước ra đi bằng mọi giá một cách liều lĩnh, đã trở thành một thảm kịch của thế kỷ 20. Thảm kịch này đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới phải rơi lệ. Trước thảm cảnh thương tâm, chính phủ Hoa Kỳ đã vội vả ban hành đạo luật “Refugee - Act” để nới rộng quy chế tỵ nạn. Đạo luật đã đem lại nhiều thuận lợi cho người Việt tạo dựng lại đời sống nơi quê hương thứ hai.
Vào năm 1989, khi Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn tại Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Hồng Kông. Số người vượt biên, vượt biển giảm dần và số người định cư tại Hoa Kỳ theo ngã này cũng từ từ chấm dứt. Tuy nhiên, ba hình thức định cư mới được mở ra. Đó là chương trình ra đi có trật tự ODP ( Orderly Departure Program), diện con Lai (Home Coming -Act) và diện H.O (Humanitarian Operation).
Người Việt Nam bỏ nước ra đi vì không chấp nhận chế độ Việt Cộng gian ác. Tư tưởng chính trị của họ đối lập với chủ nghĩa cộng sản nên họ định cư tại hải ngoại dưới danh nghĩa “tỵ nạn chính trị”. Với danh nghĩa này, cộng đồng VN hải ngoại trở thành Cộng Đồng Chống Cộng là điều tất yếu. Do đó, những cá nhân, những tổ chức, những đảng phái có những hành động và lời nói chống lại Cộng Đồng Chống Cộng, thì đây là những thành phần bất thường trong một cộng đồng bình thường.
Sinh hoạt Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại trên phương diện chính trị, là những sinh hoạt luôn nêu cao cờ vàng chính nghĩa ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ hoàn cảnh nào có thể được. Đây là hình ảnh trong tháng 9/2009 vừa qua đã đập vào mặt những tên bán nước, hại dân như Nông Đức Mạnh khi đến Úc để xin xỏ, Nguyễn tấn Dũng đến Đan Mạnh để cầu thân, và Nguyễn Minh Triết đến LHQ để… nói láo.
Nếu trong Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại có những thanh niên bình thường luật sư Trúc Celine Phạm vinh danh cờ vàng, cám ơn chính phủ Đức trong ngày lịch sử khánh thành tượng đài thuyền nhân tại hải cảng Humburg kỷ niệm ngày con tàu nhân đạo Cap Anamur ra khơi cứu người vượt biển. Các thiếu nữ trí thức trẻ trong BCH /CĐVN tại Boston, Massachusetts như Nguyễn Thị Cúc Nhật, Trần Đỗ Ngọc Lan, Trần Nguyên Anh đấu tranh cho nghị quyết cờ vàng. Các bác sĩ, luật sư, dược sĩ, kỷ sư, cử nhân, tiến sĩ trong Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc Cali tại Hoa Kỳ dấn thân xuống đường khi danh dự người Việt tỵ nạn bị chà đạp. Và Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng từ Mỹ Châu, Âu Châu, Úc Châu và hàng vạn thanh niên, thiếu nữ khác là những “trái ngọt” trong CĐVNHN thì những thanh niên, thiếu nữ bất thường như ông Brian Đoàn ở Nam Cali cặm cụi vẻ hình cờ đỏ sao vàng, nắn nót nặn tượng Hồ tặc vinh danh Việt Cộng và bà Madison Nguyễn nghị viên người Mỹ gốc Việt tại khu vực 7 thành phố San Jose, Bắc Cali tìm cách ngăn cản nghị quyết cờ vàng là những “trái đắng”, thì thật là điều mĩa mai, chua xót.
Ngoài hình thức nặn tượng Hồ tặc, ngăn cản nghị quyết cờ vàng, treo cờ máu tại các trường trung đại học, nơi du học sinh con cháu Việt Cộng theo học. Hoạt động của những kẻ bất thường chống những người chống cộng, là tiếp tay với VC tổ chức các buổi văn nghệ, giao lưu văn hóa, và các hình thức gây rối cộng đồng khác. Chẳng hạn như cái gọi là “Gặp gở Việt Nam” (Meet VietNam) dự định sẽ tổ chức hai ngày 15 và 16 tháng 11, 2009 tại San Francisco, Bắc Cali, Hoa Kỳ với sự hiện diện của tên Nguyễn Thiện Nhân, Phó thủ tướng VC sắp tới . Hình thức này là sự “khiêu khích” cộng đồng người Việt QG hải ngoại. Đây là chiến thuật “ da beo”, tổ chức “bậy bạ” hết chỗ này tới chỗ kia với mục đích làm vẫn đục sự trong sạch, tạo sự bất ổn trong cộng đồng chống cộng. Việt Cộng dùng chiến thuật như vậy, để làm mệt mõi tinh thần đấu tranh của người Việt hải ngoại. Đây là kế hoạch xâm nhập, phá hoại sức mạnh CĐVNHN theo nghị quyết 36 của chúng. Nhưng chúng sẽ thất bại!
Sau mấy mươi năm lưu vong nơi đất khách quê người, thế hệ thứ nhứt Việt Nam tỵ nạn cộng sản đã bắt đầu dần dần tàn phai theo năm tháng. Thế hệ thứ hai đã đơm bông, trổ trái. Tre già măng mọc. Đó là qui luật của tạo hoá.
Nếu trong vườn cây Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại có những “trái ngọt”, thì cũng không tránh khỏi có những “trái đắng” và những con hủi, con sâu, con rầy phá phách. Đối với “trái ngọt” là thành phần trẻ, thế hệ thứ nhứt phải biết thưởng thức với sự trân quí, phải biết loại bỏ những suy nghĩ đã làm mất nước. Đối với “trái đắng”, là những kẻ đang lội ngược giòng “Lịch Sử Chống Cộng” của người Việt lưu vong, nếu không muốn nói họ đang đồng lõa với tội ác. Sự loại bỏ những “trái đắng, con sâu, con rầy” này, nếu chẳng phải là việc làm, nhiệm vụ của riêng ai, thì chắc chắn đó phải là nhiệm vụ của tất cả mọi người trong cộng đồng người Việt quốc gia chân chính.
Đặng thiên Sơn (30/09/2009)
Saturday, September 26, 2009
Từ “Little Sàigòn” đến “Vietnamese-American Community Center”.
•Đặng thiên Sơn
Cách nay vài năm, khi người đàn bà trẻ người Mỹ gốc Việt đắc cử vào chức vụ nghị viên khu vực 7 thành phố San Jose. Chẳng những người Việt trong khu vực này vui mừng, mà người Việt khắp thành phố cũng vui lây. Nhưng một năm, sau ngày đắc cử, bà nghị viên đã tạo ra sự khủng hoảng giữa Cộng Đồng Việt Nam và chính quyền vì việc đặt tên “Little Sàigòn” cho một khu thương mại. Ngày nay, thêm một lần nữa, bà lại tạo ra sự nghi kỵ giữa chính quyền và CĐVN về cái gọi là “Vietnamese-American Community Center”.
Ngày trước, bà nghị viên chống tên “ Little Sàigòn” vì tên này có “âm hưởng chống cộng”. Hành động và lời nói đầy trịch thượng của bà như: “Những người biểu tình đi vòng vòng trước City Hall giống như gánh xiệc...” Hay “Đó chỉ là thiểu số ăn ở không ngồi rồi, đi hạch sách bà…” vân vân và vân vân. Việc làm và lời nói đó, đã tạo ra khoảng cách giữa bà và Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tỵ Nạn Cộng Sản. Dư âm phiền muộn trong lòng người Việt đối với cái tên “Little Sàigòn” vẫn còn là nỗi đau chưa tan. Thì hôm nay, với cái gọi là “Vietnamese - American Community Center” đã khiến một lần nữa CĐVN San Jose băn khoăn, xáo trộn.
Trước những tấm giấy đánh máy, hàng chữ được viết bằng tay: “We don’t trust Madison Nguyen any more”, chắc chắn đã làm bà nữ nghị viên khu vực 7 không vui. Và với dư luận xôn xao từ những ngày cuối tháng 8/09 đến giờ , chắc chắn đã làm những bửa cơm trong gia đình người Việt tại San Jose không còn được ngon miệng như trước. Đối với những sự kiện như vậy! Những người có liêm sỉ, có đạo đức, còn lương tri, không thể nào phủ nhận những rắc rối, lận đận, đã và đang chụp xuống CĐVN đầu dây, mối nhợ đều do bà nghị viên người Mỹ gốc Việt mà ra.
Trong đời sống, có vui thì phải có buồn. Đó là lẽ đương nhiên! Nhưng bất hạnh cho CĐVN San Jose là buồn nhiều hơn vui, kể từ ngày có bà nghị viên người Mỹ gốc Việt “lọt chân” vào HĐTP.
Buồn nào rồi cũng qua! Vui nào rồi cũng hết! Nhưng làm sao hiểu được chân lý của vui, của buồn, để tìm cách gìn giữ hay vứt bỏ. Thì đây là điều chúng ta cần phải suy nghĩ để nhận ra.
Trong sinh hoạt hàng ngày, nếu không nhìn ra chân lý những điều mình muốn. Chúng ta sẽ thiếu động cơ thúc đẩy để cố gắng đạt đến mục đích. Khi biết căn nhà là nơi đụt nắng, che mưa. Người ta sẽ cố gắng làm việc để có cái nhà để che thân. Trong đấu tranh khi nhận ra chính nghĩa, thì sự dấn thân mới bền bỉ lâu dài. Khi hiểu làm người ai cũng có phẩm cách và danh dự, thì người ta mới cố gắng làm những điều phải làm để bảo vệ danh dự, uy tín của mình khi bị tổn thương hay đang có mầm móng đe dọa sắp bị tổn thương.
Trong cuộc họp thăm dò ý kiến của Ban Đặc Nhiệm ngày 12/9/09 vừa qua. Với những phát giác chung quanh cái gọi là “Vietnamse - Amerian Community Center”. Người tham dự đã nhận ra lòng tin, cảm tình của người Việt trong vùng dành cho bà nghị viên khu vực 7 càng ngày càng sa sút do việc bà ta đã toa rập cùng thành phố lấy danh nghĩa cộng đồng VN xử dụng không đúng chỗ.
Nhìn vào ý kiến của người tham dự được Ban Tổ Chức tóm tắt trên bảng mới thấy rằng CĐVN là một thực thể có tư cách, biết tôn trọng quyền lợi chung của xã hội. Bảng tóm tắt là nhân chứng để minh định: “không một người Việt nào phản đối chính quyền khi họ thành lập một trung tâm đa văn hóa để đáp ứng nhu cầu xã hội, văn hóa, giáo dục và giải trí cho mọi sắc tộc”. Không có một ý kiến nào bày tỏ ý định muốn chiếm độc quyền xử dụng trung tâm, đã cho thấy CĐVN lên tiếng vì nhiều lý do khác. Trong đó có những lý do dưới đây:
1). Thành phố đặt tên là “Vietnamese-American Community Center”, nhưng mục đích là phục vụ mọi sắc dân. Đã cho thấy cái danh bên ngoài không đồng thuận với việc làm bên trong.
Một cửa tiệm với hàng chữ quảng cáo lớn và rõ ràng bên ngoài là: “Nhà hàng Việt Nam” thì không thể là nơi khi thực khách VN đến ăn thì nhân viên nhà hàng cho biết: “Hôm nay chúng tôi bán Pizza và Tacobel… Ngày mai chúng tôi bán Hamberger và Hot dog. Ngày mốt chúng tôi bán cơm Thái, cơm Đại hàn… Ngày khác chúng tôi bán thức ăn Việt Nam” . Như vậy bảng hiệu “Nhà hàng Việt Nam” bên ngoài là sự dối trá, lừa gạt trắng trợn.
2) Cộng đồng Việt Nam không chấp nhận cái gọi là “Vietnamese-American Community Center” vì nó chẳng những không chính danh, mà còn ẩn tàng mầm móng bất lợi liên quan đến uy tín, danh dự cộng đồng người Việt.
- Là một trung tâm văn hóa đa sắc tộc nhưng lại tên là “Trung tâm cộng đồng người Mỹ gốc Việt”. Điều này sẽ tạo ra sự chia rẻ, kỳ thị với các sắc tộc khác. Trong khi chính quyền có thể chọn cái tên hợp lý chính danh hơn như: “Trung tâm Cộng Đồng Đa Sắc Tộc” để tránh sự đố kỵ của các cộng đồng khác nhìn vào cộng đồng VN.
- Là một cơ sở chung, nhưng nếu có những vấn đề như trộm cắp, đánh lộn, cướp của, giết người xảy ra trong lúc chưa biết thủ phạm là ai. Nhưng, chắc chắn mang tiếng là Cộng Đồng Việt Nam khi báo chí loan tin là đã xảy ra tại “Vietnamese-American Community Center”. Chuyện “Quít làm, Cam chịu” là một sự nhảm nhí không thể chấp nhận. Sự đặt tên này, là việc làm vô ý thức của một người mang giòng máu VN nhưng chỉ vì quyền lợi cá nhân mà bán uy tín, danh dự của một dân tộc. Đây là sự sai lầm tai hại nên CĐVN không đồng ý.
Hàng ngày, tổng đài phát thanh AM1430, Sở Cảnh Sát cứ một giờ, nửa tiếng, nhắc nhở dân thành phố ra đường coi chừng bị giựt bóp. Đã cho thấy thành phố đang trong tình trạng an ninh bất bất ổn.
Do đó, nếu cái tên “LittLe Sàigòn” tiêu biểu cho căn cước của người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản trong một khu thương mại. Thì cái tên “Vietnamse-American Community Center” tiêu biểu cho cả một dân tộc trong lãnh vực Văn hóa, Xã hội , Chính trị lẫn Kinh tế của người Việt lưu vong. Cho nên, CĐVN đề nghị yêu cầu chính quyền đổi cái gọi là “Vietnamese-American Community Center” thành một tên khác là một nguyện vọng chính đáng, hợp lý, hợp pháp không thể phủ nhận.
3.) Vào tháng 10 năm 2006, bà nghị viên khu vực 7 khoe thành tích là đã vận động thành phố được ngân khoản 2 triệu 800 ngàn để thành lập một trung tâm sinh hoạt dành cho người Việt Nam. Như là một tài sản riêng, bà nói thẳng đã giao cho một bác sĩ lập Ban Điều Hành để tiến hành thủ tục “tiếp thu”. Nhưng sự thật không phải vậy. Vì qua buổi hội thảo ngày 12/09/09, một lần nữa bản chất nói láo chuyên nghiệp của nữ nghị viên kia đã lộ ra. Mọi người tham dự đề nghị không muốn thấy bà xuất hiện trong những kỳ hội thảo sắp tới do sự bất tín nhiệm, cũng là ý kiến chính đáng.
Khi nói đến thành tích của bà nghị viên , ngoài các thành tích mơ hồ như đã tạo được 1.000 việc làm trong khu chợ The Plant, xây được hàng trăm căn nhà housing tại đường Senter, xây công viên chùa Đức Viên vân vân. Thì thành tích lập “Vườn Văn Hóa Việt” của bà là một sĩ nhục cho CĐVN tại San Jose khi người ta đi ngang qua cái vườn này.
Trong chương trình phát thanh của LĐCTNV/BCL ngày 18/9/09, khi các ông Hồ Vũ, Lê Lộc, Thomas Nguyễn đề cập đến thành tích hoạt động của bà nghị viên. Thính giả nghe qua đều ngao ngán. Khi nghe nhắc đến bốn chữ “Vườn Văn Hóa Việt” người nghe bổng bất giác ngậm ngùi. Tủi cho cho nền văn hoá dân tộc, đã bị bà nghị viên và ông bác sĩ bôi bác một cách thê thảm.
Khi đi ngang qua cái gọi là “Vườn Văn Hoá Việt” trên đường Robert, không một người nào tránh khỏi chua xót khi nhìn thấy cỏ vàng, cát bụi đã phủ lấp “viên đá đầu tiên” trị giá 600 ngàn đô la. Còn tấm bảng cao vừa khỏi ngọn cỏ thì đã bị kẻ phá phách vẻ bậy, bôi bẫn lên đó. Trong khi ấy, hai lá cờ Mỹ -Việt trên cao lúc thì ủ rủ, lúc thì bay bay một cách trơ trẻn. Khiến ông đi qua, bà đi lại không hiểu đó là cái vườn gì. Hình ảnh này trông còn bi thảm hơn “nấm đất” của kỷ nữ Đạm Tiên được thi hào Nguyễn Du diễn tả trong tác phẩm Kim Vân Kiều qua hai câu lục bát: “Xè xè nấm đất bên đàng- Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”.
Thành tích văn hóa của bà nghị viên với mãnh vườn đầy cỏ dại ba năm trơ gan cùng tuế nguyệt, đã khiến hai thành viên LĐCTNV/BCL là Hồ Vũ và Lê Lộc thảng thốt kêu lên đó là vườn văn hóa thời Động Đình Hồ. Trong khi ấy thảm cảnh “ Vườn Văn Hóa Việt” được ông Thomas Nguyễn mô tả là việc làm thiếu đạo đức, thiếu trách nhiệm và coi người đời như cỏ rác của một nghị viên.
Rồi đây, cũng như câu chuyện tên “Little Sàigòn” cái gọi là “Vietnamese-American Community Center” sẽ được các cơ quan truyền thông Mỹ, Mễ như đài KLIV, báo SJM, báo Metro cắm râu, thêm sừng để biến CĐVN thành con cú quá khích, hẹp hòi và bà nghị là con phượng hoàng của thành phố. Việc bóp méo, vo tròn, vẻ hình, thêm bóng con người và xã hội là việc của các cơ quan truyền thông coi chân lý, lẽ phải là đồng đô la. Riêng CĐVN khi đã nhận ra từ chuyện “Little Sàigòn” đến sự áp đặt tên “Vietnamese-American Community Center” là hiện thân của một chính quyền thực dân mà CĐVN đang đối diện, thì chúng ta phải làm gì để bảo vệ quyền lợi, uy tín, danh dự của mình. Nếu nhận thấy việc bảo vệ sự vĩnh cửu của cộng đồng VNHN là chân lý, thì con đường chọn lựa duy nhứt của mọi người là cùng nhau đứng lên cho dù chông gai, gian khổ.
Đặng thiên Sơn (23/9/09)
Cách nay vài năm, khi người đàn bà trẻ người Mỹ gốc Việt đắc cử vào chức vụ nghị viên khu vực 7 thành phố San Jose. Chẳng những người Việt trong khu vực này vui mừng, mà người Việt khắp thành phố cũng vui lây. Nhưng một năm, sau ngày đắc cử, bà nghị viên đã tạo ra sự khủng hoảng giữa Cộng Đồng Việt Nam và chính quyền vì việc đặt tên “Little Sàigòn” cho một khu thương mại. Ngày nay, thêm một lần nữa, bà lại tạo ra sự nghi kỵ giữa chính quyền và CĐVN về cái gọi là “Vietnamese-American Community Center”.
Ngày trước, bà nghị viên chống tên “ Little Sàigòn” vì tên này có “âm hưởng chống cộng”. Hành động và lời nói đầy trịch thượng của bà như: “Những người biểu tình đi vòng vòng trước City Hall giống như gánh xiệc...” Hay “Đó chỉ là thiểu số ăn ở không ngồi rồi, đi hạch sách bà…” vân vân và vân vân. Việc làm và lời nói đó, đã tạo ra khoảng cách giữa bà và Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tỵ Nạn Cộng Sản. Dư âm phiền muộn trong lòng người Việt đối với cái tên “Little Sàigòn” vẫn còn là nỗi đau chưa tan. Thì hôm nay, với cái gọi là “Vietnamese - American Community Center” đã khiến một lần nữa CĐVN San Jose băn khoăn, xáo trộn.
Trước những tấm giấy đánh máy, hàng chữ được viết bằng tay: “We don’t trust Madison Nguyen any more”, chắc chắn đã làm bà nữ nghị viên khu vực 7 không vui. Và với dư luận xôn xao từ những ngày cuối tháng 8/09 đến giờ , chắc chắn đã làm những bửa cơm trong gia đình người Việt tại San Jose không còn được ngon miệng như trước. Đối với những sự kiện như vậy! Những người có liêm sỉ, có đạo đức, còn lương tri, không thể nào phủ nhận những rắc rối, lận đận, đã và đang chụp xuống CĐVN đầu dây, mối nhợ đều do bà nghị viên người Mỹ gốc Việt mà ra.
Trong đời sống, có vui thì phải có buồn. Đó là lẽ đương nhiên! Nhưng bất hạnh cho CĐVN San Jose là buồn nhiều hơn vui, kể từ ngày có bà nghị viên người Mỹ gốc Việt “lọt chân” vào HĐTP.
Buồn nào rồi cũng qua! Vui nào rồi cũng hết! Nhưng làm sao hiểu được chân lý của vui, của buồn, để tìm cách gìn giữ hay vứt bỏ. Thì đây là điều chúng ta cần phải suy nghĩ để nhận ra.
Trong sinh hoạt hàng ngày, nếu không nhìn ra chân lý những điều mình muốn. Chúng ta sẽ thiếu động cơ thúc đẩy để cố gắng đạt đến mục đích. Khi biết căn nhà là nơi đụt nắng, che mưa. Người ta sẽ cố gắng làm việc để có cái nhà để che thân. Trong đấu tranh khi nhận ra chính nghĩa, thì sự dấn thân mới bền bỉ lâu dài. Khi hiểu làm người ai cũng có phẩm cách và danh dự, thì người ta mới cố gắng làm những điều phải làm để bảo vệ danh dự, uy tín của mình khi bị tổn thương hay đang có mầm móng đe dọa sắp bị tổn thương.
Trong cuộc họp thăm dò ý kiến của Ban Đặc Nhiệm ngày 12/9/09 vừa qua. Với những phát giác chung quanh cái gọi là “Vietnamse - Amerian Community Center”. Người tham dự đã nhận ra lòng tin, cảm tình của người Việt trong vùng dành cho bà nghị viên khu vực 7 càng ngày càng sa sút do việc bà ta đã toa rập cùng thành phố lấy danh nghĩa cộng đồng VN xử dụng không đúng chỗ.
Nhìn vào ý kiến của người tham dự được Ban Tổ Chức tóm tắt trên bảng mới thấy rằng CĐVN là một thực thể có tư cách, biết tôn trọng quyền lợi chung của xã hội. Bảng tóm tắt là nhân chứng để minh định: “không một người Việt nào phản đối chính quyền khi họ thành lập một trung tâm đa văn hóa để đáp ứng nhu cầu xã hội, văn hóa, giáo dục và giải trí cho mọi sắc tộc”. Không có một ý kiến nào bày tỏ ý định muốn chiếm độc quyền xử dụng trung tâm, đã cho thấy CĐVN lên tiếng vì nhiều lý do khác. Trong đó có những lý do dưới đây:
1). Thành phố đặt tên là “Vietnamese-American Community Center”, nhưng mục đích là phục vụ mọi sắc dân. Đã cho thấy cái danh bên ngoài không đồng thuận với việc làm bên trong.
Một cửa tiệm với hàng chữ quảng cáo lớn và rõ ràng bên ngoài là: “Nhà hàng Việt Nam” thì không thể là nơi khi thực khách VN đến ăn thì nhân viên nhà hàng cho biết: “Hôm nay chúng tôi bán Pizza và Tacobel… Ngày mai chúng tôi bán Hamberger và Hot dog. Ngày mốt chúng tôi bán cơm Thái, cơm Đại hàn… Ngày khác chúng tôi bán thức ăn Việt Nam” . Như vậy bảng hiệu “Nhà hàng Việt Nam” bên ngoài là sự dối trá, lừa gạt trắng trợn.
2) Cộng đồng Việt Nam không chấp nhận cái gọi là “Vietnamese-American Community Center” vì nó chẳng những không chính danh, mà còn ẩn tàng mầm móng bất lợi liên quan đến uy tín, danh dự cộng đồng người Việt.
- Là một trung tâm văn hóa đa sắc tộc nhưng lại tên là “Trung tâm cộng đồng người Mỹ gốc Việt”. Điều này sẽ tạo ra sự chia rẻ, kỳ thị với các sắc tộc khác. Trong khi chính quyền có thể chọn cái tên hợp lý chính danh hơn như: “Trung tâm Cộng Đồng Đa Sắc Tộc” để tránh sự đố kỵ của các cộng đồng khác nhìn vào cộng đồng VN.
- Là một cơ sở chung, nhưng nếu có những vấn đề như trộm cắp, đánh lộn, cướp của, giết người xảy ra trong lúc chưa biết thủ phạm là ai. Nhưng, chắc chắn mang tiếng là Cộng Đồng Việt Nam khi báo chí loan tin là đã xảy ra tại “Vietnamese-American Community Center”. Chuyện “Quít làm, Cam chịu” là một sự nhảm nhí không thể chấp nhận. Sự đặt tên này, là việc làm vô ý thức của một người mang giòng máu VN nhưng chỉ vì quyền lợi cá nhân mà bán uy tín, danh dự của một dân tộc. Đây là sự sai lầm tai hại nên CĐVN không đồng ý.
Hàng ngày, tổng đài phát thanh AM1430, Sở Cảnh Sát cứ một giờ, nửa tiếng, nhắc nhở dân thành phố ra đường coi chừng bị giựt bóp. Đã cho thấy thành phố đang trong tình trạng an ninh bất bất ổn.
Do đó, nếu cái tên “LittLe Sàigòn” tiêu biểu cho căn cước của người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản trong một khu thương mại. Thì cái tên “Vietnamse-American Community Center” tiêu biểu cho cả một dân tộc trong lãnh vực Văn hóa, Xã hội , Chính trị lẫn Kinh tế của người Việt lưu vong. Cho nên, CĐVN đề nghị yêu cầu chính quyền đổi cái gọi là “Vietnamese-American Community Center” thành một tên khác là một nguyện vọng chính đáng, hợp lý, hợp pháp không thể phủ nhận.
3.) Vào tháng 10 năm 2006, bà nghị viên khu vực 7 khoe thành tích là đã vận động thành phố được ngân khoản 2 triệu 800 ngàn để thành lập một trung tâm sinh hoạt dành cho người Việt Nam. Như là một tài sản riêng, bà nói thẳng đã giao cho một bác sĩ lập Ban Điều Hành để tiến hành thủ tục “tiếp thu”. Nhưng sự thật không phải vậy. Vì qua buổi hội thảo ngày 12/09/09, một lần nữa bản chất nói láo chuyên nghiệp của nữ nghị viên kia đã lộ ra. Mọi người tham dự đề nghị không muốn thấy bà xuất hiện trong những kỳ hội thảo sắp tới do sự bất tín nhiệm, cũng là ý kiến chính đáng.
Khi nói đến thành tích của bà nghị viên , ngoài các thành tích mơ hồ như đã tạo được 1.000 việc làm trong khu chợ The Plant, xây được hàng trăm căn nhà housing tại đường Senter, xây công viên chùa Đức Viên vân vân. Thì thành tích lập “Vườn Văn Hóa Việt” của bà là một sĩ nhục cho CĐVN tại San Jose khi người ta đi ngang qua cái vườn này.
Trong chương trình phát thanh của LĐCTNV/BCL ngày 18/9/09, khi các ông Hồ Vũ, Lê Lộc, Thomas Nguyễn đề cập đến thành tích hoạt động của bà nghị viên. Thính giả nghe qua đều ngao ngán. Khi nghe nhắc đến bốn chữ “Vườn Văn Hóa Việt” người nghe bổng bất giác ngậm ngùi. Tủi cho cho nền văn hoá dân tộc, đã bị bà nghị viên và ông bác sĩ bôi bác một cách thê thảm.
Khi đi ngang qua cái gọi là “Vườn Văn Hoá Việt” trên đường Robert, không một người nào tránh khỏi chua xót khi nhìn thấy cỏ vàng, cát bụi đã phủ lấp “viên đá đầu tiên” trị giá 600 ngàn đô la. Còn tấm bảng cao vừa khỏi ngọn cỏ thì đã bị kẻ phá phách vẻ bậy, bôi bẫn lên đó. Trong khi ấy, hai lá cờ Mỹ -Việt trên cao lúc thì ủ rủ, lúc thì bay bay một cách trơ trẻn. Khiến ông đi qua, bà đi lại không hiểu đó là cái vườn gì. Hình ảnh này trông còn bi thảm hơn “nấm đất” của kỷ nữ Đạm Tiên được thi hào Nguyễn Du diễn tả trong tác phẩm Kim Vân Kiều qua hai câu lục bát: “Xè xè nấm đất bên đàng- Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”.
Thành tích văn hóa của bà nghị viên với mãnh vườn đầy cỏ dại ba năm trơ gan cùng tuế nguyệt, đã khiến hai thành viên LĐCTNV/BCL là Hồ Vũ và Lê Lộc thảng thốt kêu lên đó là vườn văn hóa thời Động Đình Hồ. Trong khi ấy thảm cảnh “ Vườn Văn Hóa Việt” được ông Thomas Nguyễn mô tả là việc làm thiếu đạo đức, thiếu trách nhiệm và coi người đời như cỏ rác của một nghị viên.
Rồi đây, cũng như câu chuyện tên “Little Sàigòn” cái gọi là “Vietnamese-American Community Center” sẽ được các cơ quan truyền thông Mỹ, Mễ như đài KLIV, báo SJM, báo Metro cắm râu, thêm sừng để biến CĐVN thành con cú quá khích, hẹp hòi và bà nghị là con phượng hoàng của thành phố. Việc bóp méo, vo tròn, vẻ hình, thêm bóng con người và xã hội là việc của các cơ quan truyền thông coi chân lý, lẽ phải là đồng đô la. Riêng CĐVN khi đã nhận ra từ chuyện “Little Sàigòn” đến sự áp đặt tên “Vietnamese-American Community Center” là hiện thân của một chính quyền thực dân mà CĐVN đang đối diện, thì chúng ta phải làm gì để bảo vệ quyền lợi, uy tín, danh dự của mình. Nếu nhận thấy việc bảo vệ sự vĩnh cửu của cộng đồng VNHN là chân lý, thì con đường chọn lựa duy nhứt của mọi người là cùng nhau đứng lên cho dù chông gai, gian khổ.
Đặng thiên Sơn (23/9/09)
Sunday, September 20, 2009
Hết cộng đồng tiếm danh, đến chính quyền tiếm danh!
*Đặng thiên Sơn
Vào lúc 8 giờ 30 sáng ngày 12 /09/09, trên hơn 200 người Việt quốc gia tỵ nạn CS tại thành phố San Jose , Bắc California đã đến tham dự buổi thăm dò ý kiến do Ban Đặc Nhiệm tổ chức tại trường trung học Yerba Buena. Tinh thần buổi họp, là tạo một diễn đàn để mọi cư dân trong thành phố thảo luận, phát biểu ý kiến về việc thành lập một cơ sở mang tên “Vietnamese -American Community Center”. Sau buổi thảo luận, Ban Đặc Nhiệm sẽ đúc kết các ý kiến đệ trình lên thành phố, để thành phố dựa vào đó quyết định những việc làm kế tiếp.
Buổi thảo luận ngày 12/09/09, đã làm sáng tỏ thêm những vấn đề như sau:
-“ Vietnamese-American Community Center ” được lập ra để đáp ứng nhu cầu xã hội, văn hóa, giáo dục và giải trí cộng đồng cho mọi sắc dân. Trong đó có những chương trình của người Mỹ gốc Việt. Những sinh hoạt có tính cách chính trị không được đề cập đến.
-Ngân quỹ 2 triệu 750 ngàn thành phố cấp, chỉ dành cho kế hoạch xây cất và sửa chữa trung tâm. Thành phố đã chọn trung tâm Shirakawa tại số 2072 Lucertia, San Jose thuộc khu vực 7 làm nơi thực hiện dự án.
-Khi xong, thành phố sẽ giao việc điều hành trung tâm cho một tổ chức bất vụ lợi có khả năng, bất kể sắc dân nào. Thành phố sẽ đưa ra mẫu đề nghị (Request for Proposal) cho những tổ chức nào đủ điều kiện muốn quản lý trung tâm. Như vậy, sau khi tu bổ xong vào năm 2011, trung tâm không hẳn là do cộng đồng VN quản trị.
- Các đề nghị, ý kiến về dự án sẽ hoàn tất và đệ nạp lên HĐTP sớm vào năm 2010. (Recommendations through the outreach process will go to City Council in early 2010).
Cuối cùng vấn đề đặt ra trong buổi thảo luận, là cơ hội nào và làm thế nào để phát triển trung tâm.
Khi thành phố đã sắp xếp các chương trình hoạt động cho trung tâm và hầu như đã quyết định trước, rồi mới mướn người tổ chức các buổi họp gọi là đóng góp ý kiến như đã trình bày. Cho thấy, đây là cách “Chơi ngược : đặt cái cày trước con trâu” của HĐ thành phố. Tuy nhiên, buổi họp ngày 12/09/09 của Ban Đặc Nhiệm được đánh giá tương đối thành công trên phương diện dân chủ. Và có ý nghĩa về phản ứng của CĐVN đối với thành phố và cá nhân bà nghị viên người Mỹ gốc Việt tại khu vực 7.
Trong chương trình phát thanh của của Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc Cali vào ngày thứ Bảy 11 tháng 9/09 vừa qua, thính giả cảm thấy thích thú khi nghe bác sĩ Nha khoa Hồ Vũ nhấn mạnh ba chữ “cái gọi là” trước tên “Vietnamese-American Community Center” khi thảo luận với ông Lê Lộc, Phó chủ tịch LĐCT về dự án xây dựng trung tâm.
Người ta thường dùng cụm từ “cái gọi là” trước một cái tên hay một danh xưng để diễn tả sự khôi hài, lố bịch, lẫn bất chính của cái tên đó.
Người Miền Nam Việt Nam hay nói “Cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ” vì thực chất của mặt trận này không phải là giải phóng cho ai. Mà là một tổ chức cướp của, giết người và làm tay sai cho cộng sản Hà Nội và tay sai cộng sản Nga -Tàu.
Người Việt Nam cũng thường hay nói “Cái gọi là không có gì quí hơn độc lập tự do” của Việt Cộng để ám chỉ khẩu hiệu này là cái bánh vẻ. Chỉ có trên tường tại các cơ sở làm việc của VC. Chỉ có tại các ngã ba, ngã tư đường, trong các buổi học tập chính trị để tuyên truyền. Còn trên thực tế người dân không có tự do gì cả và và đất nước đang chịu sự sai khiến, nô lệ Tàu Cộng.
Khi tham dự buổi họp, người ta còn phát giác thêm một điều khá thú vị, là ngoài việc “treo đầu đê bán thịt chó” và bán “bánh vẻ”. Thành phố còn đưa ra một “chiêu” nói rằng, tên “Vietnamese-American Community Center” có thể sau này được sữa đổi lại với câu thòng thêm, là việc sữa đổi phải theo tiến trình đặt tên của thành phố. Như vậy, đã cho thấy cái gọi là “Vietnamese-American Community Center” là một vở tuồng, với đầy đủ kịch tính của nó.
Thành phố có nhả ý dành một ngân khoản để thành lập một cơ sở lấy tên là “Vietnamese -American Community Center”. Có thể hiểu, là thành phố “đở đầu” cho một dự án dành cho cộng đồng VN. Thái độ đở đầu ! Được xem là hành động của một “bà mụ” đở đẻ. Nếu thật tâm giúp đở và vinh danh CĐVN, thì TP phải hiểu rằng việc đặt tên cho đứa bé hãy để cho cha mẹ nó tức là Cộng Đồng VN chọn lựa, đặt tên và dạy dỗ chớ không phải là “bà mụ”.
Hơn ai hết, thành phố phải hiểu rằng 15 năm qua, cộng đồng người Việt tại thành phố San Jose có một tổ chức gọi là Ban Đại Diện CĐVN Bắc Cali. Cho nên, khi quyết định một việc ảnh hưởng đến danh nghĩa cộng đồng VN, thành phố nên liên lạc trực tiếp với Ban Đại Diện Cộng Đồng của họ. Cũng như các Ban Đại Diện cộng đồng người Mễ, Phi Luật Tân, Đại hàn, Nhật Bổn, Lào, Miên… và Congo đang có mặt tại thành phố, thì Ban Đại Diện CĐVN là một trong số những cộng đồng này. Đây là những tổ chức chính danh, hoạt động hợp pháp có giấy phép của tiểu bang.
Với sự hoạt động có giấy phép, các Ban Đại Diện Cộng đồng thiểu số có tư cách pháp nhân trước chính quyền. Đối với tư cách của họ. Nếu là một chính quyền có đạo đức, có nhân bản, biết tôn trọng tự do và thật lòng phục vụ cư dân thì thành phố phải biết trân trọng các Ban Đại Điện này. Bởi vì, xét ra, giá trị của các Ban Đại Diện trên phương diện tinh thần, sự tín nhiệm của người dân đối với BĐD còn cao hơn một nghị viên của một khu vực.
Là chính quyền, Hội Đồng Thành Phố, hơn ai hết phải hiểu và ý thức rằng, đối với cộng đồng Việt Nam tại San Jose . Bà nữ nghị viên người Mỹ gốc Việt tại khu vực 7, giá trị đại diện của bà chỉ lẫn quẩn trong khu vực của bà mà thôi. Ngoài khu vực 7, bà không có thêm một phiếu bầu nào khác. Nói như vậy, để xác định tiếng nói hay đề nghị của bà ta liên quan đến CĐVN tại San Jose chưa hẳn là tiếng nói tiêu biểu, trung thực. Đây cũng là lý do giải thích tại sao bà im hơi, lặng tiếng trước cái chết đầy nghi vấn của Daniel Sơn Phạm do cảnh sát gây ra tại khu vực 8. Vì lên tiếng là dẫm chân lên “phần đất” của nghị viên Kenshen Chu. Trong khi ấy Ban Đại Diện CĐVN/BCL do ông Nguyễn Ngọc Tiên, Liên Đoàn CTNV/BCL do LS.Ngô Văn Tiệp và Little Sàigòn Foundation do TS. Đỗ Hùng lãnh đạo đã mạnh dạn, thẳng thắn đặt vấn đề với HĐTP, với Văn Phòng Biện Lý Cuộc và Sở Cảnh Sát.
HĐTP chỉ dựa vào những đề nghị của bà nghị viên khu vực 7, để đặt tên cho dự án mang danh người Việt Nam mà không thảo luận đầy đủ, rộng rãi với các đại diện, và hội đoàn Việt Nam là một hành động tiếm danh. Tiếm danh là một “hành vi phạm pháp trong một chế độ thượng tôn luật pháp”.
Là chính quyền, ông Thị trưởng Chuck Reed và HĐTP phải thấy được thực chất của Ban Đại Diện CĐVN /BCL hiện nay. Thực chất này, đã được chứng minh khi thành phố dự định áp đặt tên “Sàigòn Business District” cho một khu thương mại VN trên đường Story Rd. Với số lượng hàng chục ngàn người tham gia biểu tình trước tiền đình City Hall phản đối chính quyền chà đạp dân chủ. Đã cho thấy, giá trị lời kêu gọi của Ban Đại Diện CĐVN/BCL như thế nào. Giá trị và hình ảnh này, so với những gì đã xảy ra vào ngày 12/09/09 tại trường Y.B, khi bà nghị viên khu vực 7 được BTC giới thiệu lên sân khấu nói chuyện. Thì hầu như 90% người tham dự đã đứng lên bỏ ra ngoài. Hành động bày tỏ sự bất tính nhiệm, nên họ không muốn nghe những gì bà này nói, dù là lời chào mừng thăm hỏi.
HĐTP chấp thuận những gì do bà nghị viên khu vực 7 đưa ra, là một quyết định nông cạn, hồ đồ. Thành phố dùng Trung tâm Shirakawa trên đường Lucretia - một khúc xương gà mục nát đã bị người khác chê, vứt bỏ đi để thực hiện dự án “Vietnamese -American Community Center” là một hành động bất công, độc ác, vô nhân đạo.
Không một ai làm thị trưởng hoài tại một thành phố và không một ai làm nghị viên hoài tại một khu vực. Chắc chắn rồi đây những “con sâu làm rầu nồi canh” trong CĐVN sẽ bị đẩy lùi vào bóng tối. Và thị trưởng bất tài, nghị viên bất xứng sẽ bị đào thải ra khỏi HĐTP vào nhiệm kỳ năm 2010.
• Đặng thiên Sơn (16/09/09)
Vào lúc 8 giờ 30 sáng ngày 12 /09/09, trên hơn 200 người Việt quốc gia tỵ nạn CS tại thành phố San Jose , Bắc California đã đến tham dự buổi thăm dò ý kiến do Ban Đặc Nhiệm tổ chức tại trường trung học Yerba Buena. Tinh thần buổi họp, là tạo một diễn đàn để mọi cư dân trong thành phố thảo luận, phát biểu ý kiến về việc thành lập một cơ sở mang tên “Vietnamese -American Community Center”. Sau buổi thảo luận, Ban Đặc Nhiệm sẽ đúc kết các ý kiến đệ trình lên thành phố, để thành phố dựa vào đó quyết định những việc làm kế tiếp.
Buổi thảo luận ngày 12/09/09, đã làm sáng tỏ thêm những vấn đề như sau:
-“ Vietnamese-American Community Center ” được lập ra để đáp ứng nhu cầu xã hội, văn hóa, giáo dục và giải trí cộng đồng cho mọi sắc dân. Trong đó có những chương trình của người Mỹ gốc Việt. Những sinh hoạt có tính cách chính trị không được đề cập đến.
-Ngân quỹ 2 triệu 750 ngàn thành phố cấp, chỉ dành cho kế hoạch xây cất và sửa chữa trung tâm. Thành phố đã chọn trung tâm Shirakawa tại số 2072 Lucertia, San Jose thuộc khu vực 7 làm nơi thực hiện dự án.
-Khi xong, thành phố sẽ giao việc điều hành trung tâm cho một tổ chức bất vụ lợi có khả năng, bất kể sắc dân nào. Thành phố sẽ đưa ra mẫu đề nghị (Request for Proposal) cho những tổ chức nào đủ điều kiện muốn quản lý trung tâm. Như vậy, sau khi tu bổ xong vào năm 2011, trung tâm không hẳn là do cộng đồng VN quản trị.
- Các đề nghị, ý kiến về dự án sẽ hoàn tất và đệ nạp lên HĐTP sớm vào năm 2010. (Recommendations through the outreach process will go to City Council in early 2010).
Cuối cùng vấn đề đặt ra trong buổi thảo luận, là cơ hội nào và làm thế nào để phát triển trung tâm.
Khi thành phố đã sắp xếp các chương trình hoạt động cho trung tâm và hầu như đã quyết định trước, rồi mới mướn người tổ chức các buổi họp gọi là đóng góp ý kiến như đã trình bày. Cho thấy, đây là cách “Chơi ngược : đặt cái cày trước con trâu” của HĐ thành phố. Tuy nhiên, buổi họp ngày 12/09/09 của Ban Đặc Nhiệm được đánh giá tương đối thành công trên phương diện dân chủ. Và có ý nghĩa về phản ứng của CĐVN đối với thành phố và cá nhân bà nghị viên người Mỹ gốc Việt tại khu vực 7.
Trong chương trình phát thanh của của Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc Cali vào ngày thứ Bảy 11 tháng 9/09 vừa qua, thính giả cảm thấy thích thú khi nghe bác sĩ Nha khoa Hồ Vũ nhấn mạnh ba chữ “cái gọi là” trước tên “Vietnamese-American Community Center” khi thảo luận với ông Lê Lộc, Phó chủ tịch LĐCT về dự án xây dựng trung tâm.
Người ta thường dùng cụm từ “cái gọi là” trước một cái tên hay một danh xưng để diễn tả sự khôi hài, lố bịch, lẫn bất chính của cái tên đó.
Người Miền Nam Việt Nam hay nói “Cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ” vì thực chất của mặt trận này không phải là giải phóng cho ai. Mà là một tổ chức cướp của, giết người và làm tay sai cho cộng sản Hà Nội và tay sai cộng sản Nga -Tàu.
Người Việt Nam cũng thường hay nói “Cái gọi là không có gì quí hơn độc lập tự do” của Việt Cộng để ám chỉ khẩu hiệu này là cái bánh vẻ. Chỉ có trên tường tại các cơ sở làm việc của VC. Chỉ có tại các ngã ba, ngã tư đường, trong các buổi học tập chính trị để tuyên truyền. Còn trên thực tế người dân không có tự do gì cả và và đất nước đang chịu sự sai khiến, nô lệ Tàu Cộng.
Khi tham dự buổi họp, người ta còn phát giác thêm một điều khá thú vị, là ngoài việc “treo đầu đê bán thịt chó” và bán “bánh vẻ”. Thành phố còn đưa ra một “chiêu” nói rằng, tên “Vietnamese-American Community Center” có thể sau này được sữa đổi lại với câu thòng thêm, là việc sữa đổi phải theo tiến trình đặt tên của thành phố. Như vậy, đã cho thấy cái gọi là “Vietnamese-American Community Center” là một vở tuồng, với đầy đủ kịch tính của nó.
Thành phố có nhả ý dành một ngân khoản để thành lập một cơ sở lấy tên là “Vietnamese -American Community Center”. Có thể hiểu, là thành phố “đở đầu” cho một dự án dành cho cộng đồng VN. Thái độ đở đầu ! Được xem là hành động của một “bà mụ” đở đẻ. Nếu thật tâm giúp đở và vinh danh CĐVN, thì TP phải hiểu rằng việc đặt tên cho đứa bé hãy để cho cha mẹ nó tức là Cộng Đồng VN chọn lựa, đặt tên và dạy dỗ chớ không phải là “bà mụ”.
Hơn ai hết, thành phố phải hiểu rằng 15 năm qua, cộng đồng người Việt tại thành phố San Jose có một tổ chức gọi là Ban Đại Diện CĐVN Bắc Cali. Cho nên, khi quyết định một việc ảnh hưởng đến danh nghĩa cộng đồng VN, thành phố nên liên lạc trực tiếp với Ban Đại Diện Cộng Đồng của họ. Cũng như các Ban Đại Diện cộng đồng người Mễ, Phi Luật Tân, Đại hàn, Nhật Bổn, Lào, Miên… và Congo đang có mặt tại thành phố, thì Ban Đại Diện CĐVN là một trong số những cộng đồng này. Đây là những tổ chức chính danh, hoạt động hợp pháp có giấy phép của tiểu bang.
Với sự hoạt động có giấy phép, các Ban Đại Diện Cộng đồng thiểu số có tư cách pháp nhân trước chính quyền. Đối với tư cách của họ. Nếu là một chính quyền có đạo đức, có nhân bản, biết tôn trọng tự do và thật lòng phục vụ cư dân thì thành phố phải biết trân trọng các Ban Đại Điện này. Bởi vì, xét ra, giá trị của các Ban Đại Diện trên phương diện tinh thần, sự tín nhiệm của người dân đối với BĐD còn cao hơn một nghị viên của một khu vực.
Là chính quyền, Hội Đồng Thành Phố, hơn ai hết phải hiểu và ý thức rằng, đối với cộng đồng Việt Nam tại San Jose . Bà nữ nghị viên người Mỹ gốc Việt tại khu vực 7, giá trị đại diện của bà chỉ lẫn quẩn trong khu vực của bà mà thôi. Ngoài khu vực 7, bà không có thêm một phiếu bầu nào khác. Nói như vậy, để xác định tiếng nói hay đề nghị của bà ta liên quan đến CĐVN tại San Jose chưa hẳn là tiếng nói tiêu biểu, trung thực. Đây cũng là lý do giải thích tại sao bà im hơi, lặng tiếng trước cái chết đầy nghi vấn của Daniel Sơn Phạm do cảnh sát gây ra tại khu vực 8. Vì lên tiếng là dẫm chân lên “phần đất” của nghị viên Kenshen Chu. Trong khi ấy Ban Đại Diện CĐVN/BCL do ông Nguyễn Ngọc Tiên, Liên Đoàn CTNV/BCL do LS.Ngô Văn Tiệp và Little Sàigòn Foundation do TS. Đỗ Hùng lãnh đạo đã mạnh dạn, thẳng thắn đặt vấn đề với HĐTP, với Văn Phòng Biện Lý Cuộc và Sở Cảnh Sát.
HĐTP chỉ dựa vào những đề nghị của bà nghị viên khu vực 7, để đặt tên cho dự án mang danh người Việt Nam mà không thảo luận đầy đủ, rộng rãi với các đại diện, và hội đoàn Việt Nam là một hành động tiếm danh. Tiếm danh là một “hành vi phạm pháp trong một chế độ thượng tôn luật pháp”.
Là chính quyền, ông Thị trưởng Chuck Reed và HĐTP phải thấy được thực chất của Ban Đại Diện CĐVN /BCL hiện nay. Thực chất này, đã được chứng minh khi thành phố dự định áp đặt tên “Sàigòn Business District” cho một khu thương mại VN trên đường Story Rd. Với số lượng hàng chục ngàn người tham gia biểu tình trước tiền đình City Hall phản đối chính quyền chà đạp dân chủ. Đã cho thấy, giá trị lời kêu gọi của Ban Đại Diện CĐVN/BCL như thế nào. Giá trị và hình ảnh này, so với những gì đã xảy ra vào ngày 12/09/09 tại trường Y.B, khi bà nghị viên khu vực 7 được BTC giới thiệu lên sân khấu nói chuyện. Thì hầu như 90% người tham dự đã đứng lên bỏ ra ngoài. Hành động bày tỏ sự bất tính nhiệm, nên họ không muốn nghe những gì bà này nói, dù là lời chào mừng thăm hỏi.
HĐTP chấp thuận những gì do bà nghị viên khu vực 7 đưa ra, là một quyết định nông cạn, hồ đồ. Thành phố dùng Trung tâm Shirakawa trên đường Lucretia - một khúc xương gà mục nát đã bị người khác chê, vứt bỏ đi để thực hiện dự án “Vietnamese -American Community Center” là một hành động bất công, độc ác, vô nhân đạo.
Không một ai làm thị trưởng hoài tại một thành phố và không một ai làm nghị viên hoài tại một khu vực. Chắc chắn rồi đây những “con sâu làm rầu nồi canh” trong CĐVN sẽ bị đẩy lùi vào bóng tối. Và thị trưởng bất tài, nghị viên bất xứng sẽ bị đào thải ra khỏi HĐTP vào nhiệm kỳ năm 2010.
• Đặng thiên Sơn (16/09/09)
Subscribe to:
Posts (Atom)