Đặng thiên Sơn
Nhiều ngày trong tuần lễ vừa qua, các cơ quan truyền thanh, báo chí, truyền hình, đặc biệt là về phía Mỹ đã nói về trường hợp một sinh viên Việt Nam tại trường Đại học San Jose State, ban toán học, đến từ thành phố Hồ tặc đã bị cảnh sát San Jose dùng “Baton” đánh lên đầu và bắn súng “Taser” sau khi họ đã còng tay người sinh viên này .
Câu chuyện bắt đầu trở thành ầm ỉ khi báo San Jose Mercury News phát hành tại San Jose tung ra hai bài viết có tựa đề “ “Những âm thanh tệ hại” (The worst part is the sound) và “ Băng video cho thấy Cảnh sát San Jose dùng “Baton”, súng “Taser” bắn kẻ bị tình nghi (San Jose police officers caught on video using baton, Taser gun on suspect) trong hai ngày 24 và 25 tháng mười 2009. Kèm với bài viết là đoạn video dài 2 phút 53 giây, chứng minh cảnh sát đã hành động trái phép. Đoạn video này được quay bằng điện thoại cầm tay, và được văn phòng luật sư Nguyễn Hoàng Duyên cung cấp.
Theo tường thuật thì câu chuyện đã xảy ra vào ngày 3/ 9/09, cách nay gần hai tháng. Được tóm tắt như sau: “Trong ngày 3/9/09, một người bạn cùng phòng với sinh viên VN tên Hồ Phương, là Jeremy Suftin đã dùng xà bong đổ vào đĩa thịt bò Hồ đang ăn. Trong lúc lời qua tiếng lại, Hồ Phương đã cầm con dao cắt thịt chỉ vào Jeremy Suftin với những lời lẽ hăm dọa. Jeremy Suftin gọi 911 và cảnh sát đến. Khi cảnh sát đến nơi thì sự cải vả đã chấm dứt, Hồ Phương không cầm vũ khí nào trên tay. Vì tiếng Anh kém, Hồ Phương không hiểu lời yêu cầu của cảnh sát biểu đưa tay ra để “chịu trói” nên tỉnh bơ định bỏ đi ra chỗ khác, nhưng đã bị cảnh sát đè xuống còng tay lại. Tiếp theo đó là trận đòn “Baton” của cảnh sát viên Kenneth Siegel giáng xuống và mùi súng “Taser” của cảnh sát viên Steven Payne Jr. tặng cho Hồ Phương. Sau đó, sinh viên này bị câu lưu một ngày một đêm tại sở cảnh sát… Khi trả lời phỏng vấn báo San Fransico Chronico , Hồ Phương cho biết vì không hiểu tiếng Anh nên không biết cảnh sát muốn gì, mới bị họ đè xuống còng tay. Và vì không hiểu luật pháp Hoa Kỳ nên mới nhờ luật sư can thiệp chậm trể như vậy”.
Ngay khi báo báo SJMN đặt vấn đề, Cộng Đồng VN chưa kịp lên tiếng, thì Thị trưởng Chuck Reed, sĩ quan cảnh sát Ronnie Lopez, nghị viên khu vực 3 là Sam Licarrdo, và kế đến nghị viên Kansen Chu khu vực 4, đã đồng loạt lên tiếng. Những nhân vật này cho biết chính quyền đang mở cuộc điều tra để làm sáng tỏ sự việc. Sự quá mau mắn của Chuck Reed và sở cảnh sát đã cho thấy khác biệt lớn lao, so với sự kiện cảnh sát San Jose bắn chết Daniel Sơn Phạm ngày 10/5/09. Trong vụ Daniel Sơn Phạm, mặc dù chính quyền, sở cảnh sát, biện lý cuộc nhận được hàng ngàn thỉnh nguyện thư của gia đình nạn nhân và cử tri VN yêu cầu điều tra minh bạch, nhưng họ vẫn im lặng không ngó ngàng gì tới. Để rồi cuối cùng, sau đó, biện lý cuộc ra phán quyết cho biết hai cảnh sát bắn Daniel Sơn Phạm không làm sai, nên miễn truy tố.
Bài viết này, không đề cập đến “đúng hay sai” về hành động của cảnh sát khi tiếp cận với dân chúng. Nếu nói đúng, thì dù cho hình ảnh không rõ ràng của đoạn video với tiếng kêu gào của nạn nhân cũng đủ chứng minh cho thấy cảnh sát quá thô bạo rồi. Hơn nữa, khi ông Chuck Reed, sở cảnh sát đã lên tiếng đang cho tiến hành điều tra, thì thái độ đứng đắn nhứt là giữa bình tỉnh để đợi chờ kết quả. Nên vấn đề đặt ra ở đây, nếu CĐNV tại San Jose muốn là điều gì đó trong lúc chờ đợi, thì điều cần thiết là phải nhìn ra sự việc để hành động được đúng mức, chính xác.
Trước tiên đừng quên rằng, Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại là một Cộng Đồng Tỵ Nạn Cộng Sản tức Tỵ Nạn Chính Trị. Thứ hai, dù rằng trên quan hệ tình người cũng phải thấy ngay, chuyện một du học sinh bị bạo hành khác với chuyện một công dân người Mỹ gốc Việt bị cảnh sát bắn chết. Nếu xác định được hai điểm vừa kể, chúng ta mới thấy trường hợp của Hồ Phương là một trường hợp đặc biệt. Sự đặc biệt này dựa trên ba quan điểm Tình, Lý và Chính trị. Do đó, nó đòi hỏi sự tế nhị, sáng suốt và quyết định đứng đắn của từng cá nhân, của Ban Đại Diện Cộng Đồng, của những tổ chức, đảng phái, để tránh trường hợp bị “cháy túi, trắng tay”.
- VỀ TÌNH: Trên phương diện nhân bản và đồng loại. Dẹp qua các thành kiến Hồ Phương là một du học sinh, là thành phần vừa hồng vừa chuyên được Việt Cộng đào tạo từ nhỏ. Nhưng, khi nhìn hình ảnh của đoạn video với âm thanh hỗn độn, khó ai tránh được sự thương hại khi tai nghe những tiếng rên la, đau đớn thảm thiết của nạn nhân. Những cảm xúc này càng tăng trong lòng người nghe, khi nghĩ đến cái chết của Daniel Sơn Phạm không được chính quyền Chuck Reed giải quyết minh bạch. (Xin mở dấu ngoặc ở đây, suy nghĩ này loại ra trường hợp nếu có những tên Việt Cộng nằm vùng tại các Toà Lãnh Sự, Tòa Đại Sứ của chúng đi ra đường bị cảnh sát Mỹ đánh, bợp tai hay cả việc bị bắn chết).
-VỀ LÝ: Từ những bất mãn dồn dập chuyện này đến chuyện kia, cộng đồng VN San Jose đòi hỏi chính quyền địa phương một câu trả lời thỏa đáng là điều đương nhiên. Đòi hỏi này dựa trên tinh thần duy trì công lý mà quyền thụ hưỏng dành cho mọi sắc tộc, chớ không phải vì Phương Hồ là người VN. Lên tiếng để đòi hỏi chính quyền xác định thái độ, hành động của cảnh sát khi tiếp cận với người dân tới mức độ nào mới đúng, đối với những người không có vũ khí nguy hiểm trên tay hay họ không có hành động nào nguy hại đến cảnh sát? Câu hỏi này, người dân cần sự trả lời rõ ràng để còn tin tưởng hay không vào sự làm việc của ccảnh sát.
- VỀ CHÍNH TRỊ: Hồ Phương là người của chế độ cộng sản VN. Hồ Phương là thành phần ưu tú của đảng và nhà nước VC được xuất cảng sang Hoa Kỳ. Do đó, kẻ có đủ tư cách pháp nhân ra mặt bảo vệ, binh vực quyền lợi cho Hồ Phương là bọn VC nằm vùng tại San Fransico, chớ không phải là người Việt tỵ nạn CS, Ban Đại Diện CĐVN hay bất cứ một đoàn thể nào tại San Jose.
Có những suy nghĩ cho rằng, Tòa Lãnh Sự VC tại SF không lo cho Hồ Phương , thì đây là cơ hội người Việt quốc gia đứng ra lo để lôi kéo những du học sinh, con cháu VC về với chính nghĩa quốc gia. Đây là suy nghĩ hời hợt, chủ quan. Tại sao không nghĩ ngược lại, chính Việt Cộng tại S.F đang tung ra vấn đề Hồ Phương lúc này sau khi đã tính toán kỹ. Nhưng, VC dấu mặt và mở rộng cửa cho những kẻ hấp tấp bước vào cái bẩy mà chúng đã giăng ra. Bởi vì nếu VC ra mặt, thì đâu còn chỗ trống để CĐVN nhảy vào đòi duy trì công lý (?)
Hãy nghĩ, Hồ Phương bị cảnh sát “hành hung” xảy ra tới nay đã gần hai tháng. Nhưng tại sao hôm nay văn phòng luật sư của nạn nhân mới tung ra trên báo SJMN để làm rùm beng? Phải chăng điều này là sự sắp xếp, tính toán kỷ của kẻ chủ mưu đứng sau lưng? Có ba giả thuyết được mọi người bàn tán đến:
1/ Giả thuyết 1: Sự tung tin trên báo chậm trể vì sự trao đổi mua bán, giá cả đoạn video giữa luật sư của Hồ Phương và Dimitri Masouris, người đã quay được đoạn phim tới lúc này mới ngả giá xong.
2./ Giả thuyết 2: Cuối tháng 10/09, là thời điểm chính mùi Việt Cộng tung tiền ra thuê mướn luật sư, báo chí và bật đèn xanh làm lớn chuyện để lôi kéo cộng đồng VN nhập cuộc. CĐVN vốn nhạy cảm và đang bất mãn chính quyền về chuyện Daniel Sơn Phạm nên hăng hái đấu tranh đòi công lý. Vô tình làm bung xung tốt cho VC .
Nếu cộng đồng Việt Nam San Jose nhúng tay sâu vào chuyện Hồ Phương, Việt Cộng có những điều lợi sau đây:
- VC mượn sức của CĐVN để làm giá với chính quyền San Jose, mà qua vụ Little Sàigòn ai cũng thấy ít ra Chuck Reed và Madison Nguyễn là hai người có cảm tình với VC nên việc trao đổi không khó.
- VC muốn CĐVN nhúng tay vào chuyện Hồ Phương, là cách chuyển hướng “mũi nhọn” người Việt quốc gia đang nhắm tới là đối phó với cái gọi là “Meet VN” trong hai ngày 15 và 16/11 của chúng tại S.F bị chểnh mản, yếu đi.
- Việt Cộng lợi dụng sự nhúng tay nhiệt tình của CĐVN vào vụ Hồ Phương để tuyên truyền trong nước rằng, CĐVN tại San Jose đúng là một bộ phận của VNCS vì rõ ràng sự hăng hái bảo vệ một du học sinh đã chứng tỏ tinh thần: “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”.
3./ Giả thuyết 3: Là điều kiện Việt Cộng cần phải có có để đào sâu thêm sự rạn nức giữa CĐVN với chính quyền. Từ đó, VC và tay sai sẽ rêu rao CĐVN tỵ nạn cộng sản là thành phần gây rối, quá khích. Mục đích này chúng chuẩn bị cho việc bầu cử năm 2010 sắp tới.
Chính vì vậy, sau khi đã lên tiếng và làm những điều cần làm như Ban Đại diện Cộng đồng VN/BCL đã gửi văn thư đến Thị trưởng, Sở Cảnh sát San Jose, Biện Lý Cuộc yêu cầu mở cuộc điều tra. Như LĐCTNV/BCL cũng như các đoàn thể tổ chức họp báo trước tiền đình City hall chiều ngày 27/10/2009, thiết nghĩ đã quá đủ. Phần còn lại hãy để cho “cha mẹ đở đầu” của các du học sinh là bọn VC nằm vùng tại S.F và những kẻ thân cộng “thụ lý”. Nếu tiến xa hơn như kêu gọi biểu tình thì e rằng, sẽ trở thành một kịch bản khôi hài của vở tuồng “Anh hùng cứu mỹ nhân” khi đây không phải là việc làm của những người Việt tỵ nạn cộng sản sáng suốt.
* Đặng thiên Sơn (28 tháng 10/09)
Wednesday, October 28, 2009
Friday, October 23, 2009
Một phán quyết không minh bạch cần sửa sai để duy trì công lý
* Đặng thiên Sơn
Trong một bài viết tựa đề “Không ai muốn bất hạnh đến với mình”, tôi đã đề cập đến cái chết Daniel Sơn Phạm, 27 tuổi, con của ông bà Phạm Vinh cư ngụ tại thành phố San Jose, Bắc California. Câu chuyện xảy ra đúng vào ngày Chủ nhật lễ Mother’s day (Ngày hiền mẫu) 10 tháng 05 năm 2009. Ngày này, lẽ ra là ngày gia đình xum họp, vui vầy. Nhưng lại là ngày chia lìa, khổ đau của gia đình ông Phạm Vinh. Câu chuyện thương tâm xảy ra khi anh của Daniel Sơn Phạm là Brian Phạm gọi cảnh sát đến nhà mình để giúp đỡ đưa em mình vào nhà thương vì cơn bịnh tâm thần nổi lên. Nhưng khi cảnh sát đến nơi! Thay vì “giúp đỡ dân”, cảnh sát đã ra tay “bắn chết dân” bằng bốn phát đạn.
Khi hay tin con chết, trả lời phỏng vấn báo chí Việt - Mỹ, ông Phạm Vinh đã thảng thốt kêu lên: “Gia đình chúng tôi muốn biết tại sao con trai mình phải chết. Chúng tôi chỉ gọi 911 để xin giúp đỡ, chớ đâu phải gọi họ đến để giết con mình”. Và Brian Phạm đã kể lại cho mọi người nghe, là khi cảnh sát đến anh đã nói lớn nhiều lần bằng tiếng Anh: “Don’t kill him. He’s mentally ill (Xin đừng bắn nó. Nó bị bịnh tâm thần). Nhưng những tiếng cầu khẩn thảm thiết của Brian Phạm vô dụng đối với hai cảnh sát tên Matthew Blackerby và Brian Jeffrey. Họ sồng sộc - hùng hổ - lạnh lùng đi ra phía sau nhà, nơi Daniel Sơn Phạm đang đứng bắn liền 4 phát. Bốn phát đạn đã làm cho người thanh niên vô tội chết liền tại chỗ.
Để giải thích thái độ hành xử chớp nhoáng hơn phim cao bồi “Bắn chậm thì chết” của nhân viên cảnh sát San Jose. Xin hãy đọc đoạn tường thuật trên báo San Jose Mercury News ngày 14/5/09: “San Josse police officers Matthew Blackbery and Brian Jeffrey arrived at the bloody and chaotic Berryessa neighood home Sunday not knowing the attacker lurking somewhere inside was mentally ill. Event they had known, police officials said Tuesday, they would not have acted any differently” (Cảnh sát San Jose Matthew Blackbery and Brian Jeffrey đến nơi lộn xộn có đỗ máu ở khu Barryessa, vào ngày Chủ nhật, không biết kẻ tấn công núp ở chỗ nào là người bị bịnh tâm thần. Hôm thứ Ba, giới chức thẩm quyền cảnh sát trả lời là dầu cho khi họ biết điều này họ cũng không thể có hành động nào khác hơn). Không có hành động nào khác hơn, có nghĩa là bịnh tâm thần cũng phải chết.
Đây không phải là lần đầu tiên cảnh sát San Jose nổ súng giết người khi nhận được điện thoại 911 để nhờ giúp đỡ. Riêng đối với Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt tại San Jose, đây là lần thứ hai. Lần thứ nhứt xảy ra vào buổi chiều ngày 13 tháng 7 năm 2003. Ngày này, cảnh sát đã bắn chết cô Trần Thị Bích Câu một thiếu nữ yếu đuối, nhỏ nhắn cao chỉ quá 1 mét 4 tại nhà cô trên đường Taylor. Sáu năm sau, vào buổi trưa ngày 10 tháng 5 năm 2009, hai cảnh sát Matthew Blackbery và Brian Jeffrey đã bắn chết Daniel Sơn Phạm tại sân sau nhà trên đường Commodore. Cả hai nạn nhân của cảnh sát, Trần thị Bích Câu và Daniel Sơn Phạm đều là những người bị bịnh tâm thần.
Hàng ngày theo dõi tin tức trên các hệ thống truyền thanh, truyền hình. Mọi người điều thấy nhân viên cảnh sát thật kiên nhẫn khi đuổi bắt kẻ phạm pháp trên xa lộ. Hay khi họ bao vây một công sở, một nhà hàng, một trường học, nơi kẻ tội phạm đang ẩn náu, có vũ khí trên tay. Họ hành động với sự nhẫn nại đáng mến phục. Ngoài ra, họ còn dùng loa phóng thanh, dùng những lời lẽ khuyến dụ các đối tượng đầu hàng. Nói một cách khác, nhân viên cảnh sát khắp nơi ai cũng tỏ ra tôn trọng mạng sống con người, kể cả mạng sống những kẻ sát nhân. Nhưng ngược lại, hành động nổ súng giết chết cô Trần thị Bích Câu và thanh niên Daniel Sơn Phạm, đã cho thấy một số nhân viên cảnh sát thành phố San Jose coi mạng người như cỏ rác và là những người có máu lạnh.
Câu hỏi đặt ra, là khi được huấn luyện trở thành cảnh sát họ có được dạy phải kiên nhẫn trong mọi tình huống để tránh thiệt hại sinh mạng cho cả hai bên hay không. Nếu có, tại sao hai cảnh sát viên Matthew Blackbery và Brian Jeffrey không kiên nhẫn dành ra 5, 10, 15 phút hay lâu hơn nữa, để đợi cho “cơn điên” của Daniel Sơn Phạm hạ xuống. Bắn chết Daniel Sơn Phạm, một người bị bịnh tâm thần, là hành động độc ác của Matthew Blackbery và Brian Jeffrey. Sự độc ác này cần phải làm sáng tỏ để sau này tránh những trường hợp không cần thiết phải nhúng tay vào máu của cảnh sát.
Làm sáng tỏ vụ án mạng không có nghĩa bắt những đã kẻ dính líu vào máu phải nhận tội sát nhân dù cố sát hay ngộ sát. Mà làm sáng tỏ, là sự giải thích minh bạch về tình huống đã thúc đẩy Matthew Blackbery và Brian Jeffrey đến quyết định phải nổ súng. Sự giải thích rõ ràng của chính quyền trong cái chết của Daniel Sơn Phạm, sẽ dẫn đến quyết định của người dân là còn tin tưởng hay không còn tin tưởng vào chính quyền khi gọi số khẩn cấp 911.
Sau 6 tháng im lặng và sau hai ngày thảo luận, điều tra 13 và 14/10/09, với sự tham dự của Bồi Thẩm Đoàn. Văn phòng Biện Lý Cuộc quận hạt Santa Clara của bà Doroles Carr đã ra phán quyết Matthew Blackbery và Brian Jeffrey hành động không có gì sai trái, nên miễn truy tố trước tòa án.
Trả lời phỏng vấn trên đài Vietnam AM 1430 vào trưa ngày 18/10/09, ông Phạm Vinh cho biết Biện Lý Cuộc đã dựa theo trả lời “Yes” hoặc “No” của các nhân chứng và quyết định của Bồi Thẩm Đoàn, nói rằng hai nhân viên cảnh sát không hề biết Daniel Sơn Phạm bị bịnh tâm thần. Đây là kết luận của một phán quyết gian dối, khi sự thật đang nằm trong cuốn tape ghi âm mà các giới chức liên hệ trong chính quyền đã toa rập ém nhẹm không công bố. Vì có thể nói, với hệ thống an ninh tối tân nhứt thế giới của Hoa Kỳ, hơn ai hết, cảnh sát viên Matthew Blackbery và Brian Jeffrey trên đường đến hiện trường họ đã biết rõ Daniel Sơn Phạm là người bị bịnh tâm thần, và còn biết rõ đó không phải là lần thứ nhứt cảnh sát đến nhà nạn nhân để can thiệp.
Nhiều người ngạc nhiên khi thấy ông Kansen Chu tỏ ra dè dặt trước cái chết của Daniel Sơn Phạm. Đến nay, ông ta không đưa ra một văn thư chính thức nào đề nghị HĐTP giải quyết thỏa đáng cái chết của Daniel Sơn Phạm theo như nguyện vọng của CĐVN. Sự im hơi này là một bài học để những cử tri tại khu vực 4 suy nghĩ về chức năng của một nghị viên. Bên cạnh đó, là sự im lặng khác thường của bà Madison Nguyễn so với vụ án Trần thị Bích Câu năm 2003.
Trong bài báo tựa đề: “Tình trạng tiến thối lưỡng nan của nữ nghị viên Madison Nguyễn” (The dilemma of San Jose Councilwoman Madison Nguyen) của bình luận gia Scott Herhold trên báo SJMN ngày 18/10/09, trong phần đầu bài viết cũng đã đề cập đến sự khác thường về hai hình ảnh, nhưng cùng một sự kiện nổ súng chết người của cảnh sát San Jose. Đối với vụ Trần thị Bích Câu Madison Nguyễn xuống đường chống cảnh sát, nhưng vụ Daniel Sơn Phạm lại nín thinh.
Gạt ra ngoài mọi thành kiến, bất đồng, mâu thuẫn và rạn nứt giữa bà Madison và đa số người Mỹ gốc Việt tại San Jose, lẽ ra bà Madison phải thấy rằng sự kiện Daniel Sơn Phạm bị cảnh sát San Jose bắn chết chẳng liên quan gì đến sự kiện Little Sàigon, sự kiện bà ngăn cản nghị quyết cờ vàng hay vấn đề bà ta đã bị hơn 5 ngàn cử tri khu vực 7 bỏ phiếu bất tín nhiệm vào ngày 3 tháng 3/2009. Vì đây là vấn đề nhân bản, nghĩa vụ lẫn nhiệm vụ của một đại diện dân khi đối diện trước một cái chết có nhiều nghi vấn. Nhưng tiếc thay vì quyền lợi cá nhân, vì tham vọng tái ứng cử vào năm 2010, vì thói “đền ơn” bà nghị viên cần phải “đền ơn cảnh sát” đã ủng hộ No recall, nên đã im lặng đạp lên máu và nước mắt của gia đình nạn nhân mà đi.
Phán quyết của Biện Lý Cuộc ngày 14/10/09, đã cho thấy cái gọi là “Dự Luật Trong Sáng, Công khai” (Sunshine Ordinance) do ông Chuck Reed đề ra là chuyện nói vậy chớ không phải vậy. Mặc dù Chuck Reed có những lời nói có vẻ thành thật trong bài xã luận của báo SJMN ngày 19 tháng 10/ 09, tựa đề: “Trường hợp Phạm cần đưa ra nhiều tiết lộ của cảnh sát hơn” (Pham case shows need for more police disclosure). Bài báo viết: “Reed nói cuồn tape 911 nên công bố để chứng minh việc nào đó, tốt hơn là không có gì, và cuồn băng nên được phổ biến sau cuộc họp của bồi thẩm đoàn…Khi cuồn tape được phổ biến, nó có thể làm sáng tỏ hoàn cảnh cảnh sát đã làm, kể cả việc Phạm bị bịnh tâm thần và mức độ được đánh giá là nguy hiểm. Báo cáo tường trình của cảnh sát sẽ làm người dân hiểu chuyện gì đã xảy ra”. Nhưng, câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao ông Chuck Reed lại không thỏa mãn nguyện vọng của gia đình nạn nhân và hàng ngàn thỉnh nguyện của cử tri VN như những điều ông đã nói trên báo SJMN trước khi có phán quyết của Biện Lý Cuộc?
Duy trì sự trong sáng công lý của một quốc gia vốn tự hào thượng tôn luật pháp là điều cần thiết. Nhưng để thực hiện điều này, thiết nghĩ Hội Đồng Thành Phố, Sở cảnh sát và Văn phòng Biện lý Santa Clara nên theo nguyện vọng của gia đình nạn nhân, Ban Đại Diện Cộng Đồng VN, các Đoàn thể và hàng ngàn thỉnh nguyện thư của người Mỹ gốc Việt yêu cầu chính quyền triệu tập một Bồi Thẩm Đoàn mới, làm việc công khai với những nhân chứng, vật chứng do sở cảnh sát cung cấp. Có được như vậy thì thật sự mới khiến mọi người hiểu được lời thị trưởng Chuck Reed đã nói: “The police report might lay out other circumstances that would help people understand what happened”.
* Đặng thiên Sơn (22/10/09)
Trong một bài viết tựa đề “Không ai muốn bất hạnh đến với mình”, tôi đã đề cập đến cái chết Daniel Sơn Phạm, 27 tuổi, con của ông bà Phạm Vinh cư ngụ tại thành phố San Jose, Bắc California. Câu chuyện xảy ra đúng vào ngày Chủ nhật lễ Mother’s day (Ngày hiền mẫu) 10 tháng 05 năm 2009. Ngày này, lẽ ra là ngày gia đình xum họp, vui vầy. Nhưng lại là ngày chia lìa, khổ đau của gia đình ông Phạm Vinh. Câu chuyện thương tâm xảy ra khi anh của Daniel Sơn Phạm là Brian Phạm gọi cảnh sát đến nhà mình để giúp đỡ đưa em mình vào nhà thương vì cơn bịnh tâm thần nổi lên. Nhưng khi cảnh sát đến nơi! Thay vì “giúp đỡ dân”, cảnh sát đã ra tay “bắn chết dân” bằng bốn phát đạn.
Khi hay tin con chết, trả lời phỏng vấn báo chí Việt - Mỹ, ông Phạm Vinh đã thảng thốt kêu lên: “Gia đình chúng tôi muốn biết tại sao con trai mình phải chết. Chúng tôi chỉ gọi 911 để xin giúp đỡ, chớ đâu phải gọi họ đến để giết con mình”. Và Brian Phạm đã kể lại cho mọi người nghe, là khi cảnh sát đến anh đã nói lớn nhiều lần bằng tiếng Anh: “Don’t kill him. He’s mentally ill (Xin đừng bắn nó. Nó bị bịnh tâm thần). Nhưng những tiếng cầu khẩn thảm thiết của Brian Phạm vô dụng đối với hai cảnh sát tên Matthew Blackerby và Brian Jeffrey. Họ sồng sộc - hùng hổ - lạnh lùng đi ra phía sau nhà, nơi Daniel Sơn Phạm đang đứng bắn liền 4 phát. Bốn phát đạn đã làm cho người thanh niên vô tội chết liền tại chỗ.
Để giải thích thái độ hành xử chớp nhoáng hơn phim cao bồi “Bắn chậm thì chết” của nhân viên cảnh sát San Jose. Xin hãy đọc đoạn tường thuật trên báo San Jose Mercury News ngày 14/5/09: “San Josse police officers Matthew Blackbery and Brian Jeffrey arrived at the bloody and chaotic Berryessa neighood home Sunday not knowing the attacker lurking somewhere inside was mentally ill. Event they had known, police officials said Tuesday, they would not have acted any differently” (Cảnh sát San Jose Matthew Blackbery and Brian Jeffrey đến nơi lộn xộn có đỗ máu ở khu Barryessa, vào ngày Chủ nhật, không biết kẻ tấn công núp ở chỗ nào là người bị bịnh tâm thần. Hôm thứ Ba, giới chức thẩm quyền cảnh sát trả lời là dầu cho khi họ biết điều này họ cũng không thể có hành động nào khác hơn). Không có hành động nào khác hơn, có nghĩa là bịnh tâm thần cũng phải chết.
Đây không phải là lần đầu tiên cảnh sát San Jose nổ súng giết người khi nhận được điện thoại 911 để nhờ giúp đỡ. Riêng đối với Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt tại San Jose, đây là lần thứ hai. Lần thứ nhứt xảy ra vào buổi chiều ngày 13 tháng 7 năm 2003. Ngày này, cảnh sát đã bắn chết cô Trần Thị Bích Câu một thiếu nữ yếu đuối, nhỏ nhắn cao chỉ quá 1 mét 4 tại nhà cô trên đường Taylor. Sáu năm sau, vào buổi trưa ngày 10 tháng 5 năm 2009, hai cảnh sát Matthew Blackbery và Brian Jeffrey đã bắn chết Daniel Sơn Phạm tại sân sau nhà trên đường Commodore. Cả hai nạn nhân của cảnh sát, Trần thị Bích Câu và Daniel Sơn Phạm đều là những người bị bịnh tâm thần.
Hàng ngày theo dõi tin tức trên các hệ thống truyền thanh, truyền hình. Mọi người điều thấy nhân viên cảnh sát thật kiên nhẫn khi đuổi bắt kẻ phạm pháp trên xa lộ. Hay khi họ bao vây một công sở, một nhà hàng, một trường học, nơi kẻ tội phạm đang ẩn náu, có vũ khí trên tay. Họ hành động với sự nhẫn nại đáng mến phục. Ngoài ra, họ còn dùng loa phóng thanh, dùng những lời lẽ khuyến dụ các đối tượng đầu hàng. Nói một cách khác, nhân viên cảnh sát khắp nơi ai cũng tỏ ra tôn trọng mạng sống con người, kể cả mạng sống những kẻ sát nhân. Nhưng ngược lại, hành động nổ súng giết chết cô Trần thị Bích Câu và thanh niên Daniel Sơn Phạm, đã cho thấy một số nhân viên cảnh sát thành phố San Jose coi mạng người như cỏ rác và là những người có máu lạnh.
Câu hỏi đặt ra, là khi được huấn luyện trở thành cảnh sát họ có được dạy phải kiên nhẫn trong mọi tình huống để tránh thiệt hại sinh mạng cho cả hai bên hay không. Nếu có, tại sao hai cảnh sát viên Matthew Blackbery và Brian Jeffrey không kiên nhẫn dành ra 5, 10, 15 phút hay lâu hơn nữa, để đợi cho “cơn điên” của Daniel Sơn Phạm hạ xuống. Bắn chết Daniel Sơn Phạm, một người bị bịnh tâm thần, là hành động độc ác của Matthew Blackbery và Brian Jeffrey. Sự độc ác này cần phải làm sáng tỏ để sau này tránh những trường hợp không cần thiết phải nhúng tay vào máu của cảnh sát.
Làm sáng tỏ vụ án mạng không có nghĩa bắt những đã kẻ dính líu vào máu phải nhận tội sát nhân dù cố sát hay ngộ sát. Mà làm sáng tỏ, là sự giải thích minh bạch về tình huống đã thúc đẩy Matthew Blackbery và Brian Jeffrey đến quyết định phải nổ súng. Sự giải thích rõ ràng của chính quyền trong cái chết của Daniel Sơn Phạm, sẽ dẫn đến quyết định của người dân là còn tin tưởng hay không còn tin tưởng vào chính quyền khi gọi số khẩn cấp 911.
Sau 6 tháng im lặng và sau hai ngày thảo luận, điều tra 13 và 14/10/09, với sự tham dự của Bồi Thẩm Đoàn. Văn phòng Biện Lý Cuộc quận hạt Santa Clara của bà Doroles Carr đã ra phán quyết Matthew Blackbery và Brian Jeffrey hành động không có gì sai trái, nên miễn truy tố trước tòa án.
Trả lời phỏng vấn trên đài Vietnam AM 1430 vào trưa ngày 18/10/09, ông Phạm Vinh cho biết Biện Lý Cuộc đã dựa theo trả lời “Yes” hoặc “No” của các nhân chứng và quyết định của Bồi Thẩm Đoàn, nói rằng hai nhân viên cảnh sát không hề biết Daniel Sơn Phạm bị bịnh tâm thần. Đây là kết luận của một phán quyết gian dối, khi sự thật đang nằm trong cuốn tape ghi âm mà các giới chức liên hệ trong chính quyền đã toa rập ém nhẹm không công bố. Vì có thể nói, với hệ thống an ninh tối tân nhứt thế giới của Hoa Kỳ, hơn ai hết, cảnh sát viên Matthew Blackbery và Brian Jeffrey trên đường đến hiện trường họ đã biết rõ Daniel Sơn Phạm là người bị bịnh tâm thần, và còn biết rõ đó không phải là lần thứ nhứt cảnh sát đến nhà nạn nhân để can thiệp.
Nhiều người ngạc nhiên khi thấy ông Kansen Chu tỏ ra dè dặt trước cái chết của Daniel Sơn Phạm. Đến nay, ông ta không đưa ra một văn thư chính thức nào đề nghị HĐTP giải quyết thỏa đáng cái chết của Daniel Sơn Phạm theo như nguyện vọng của CĐVN. Sự im hơi này là một bài học để những cử tri tại khu vực 4 suy nghĩ về chức năng của một nghị viên. Bên cạnh đó, là sự im lặng khác thường của bà Madison Nguyễn so với vụ án Trần thị Bích Câu năm 2003.
Trong bài báo tựa đề: “Tình trạng tiến thối lưỡng nan của nữ nghị viên Madison Nguyễn” (The dilemma of San Jose Councilwoman Madison Nguyen) của bình luận gia Scott Herhold trên báo SJMN ngày 18/10/09, trong phần đầu bài viết cũng đã đề cập đến sự khác thường về hai hình ảnh, nhưng cùng một sự kiện nổ súng chết người của cảnh sát San Jose. Đối với vụ Trần thị Bích Câu Madison Nguyễn xuống đường chống cảnh sát, nhưng vụ Daniel Sơn Phạm lại nín thinh.
Gạt ra ngoài mọi thành kiến, bất đồng, mâu thuẫn và rạn nứt giữa bà Madison và đa số người Mỹ gốc Việt tại San Jose, lẽ ra bà Madison phải thấy rằng sự kiện Daniel Sơn Phạm bị cảnh sát San Jose bắn chết chẳng liên quan gì đến sự kiện Little Sàigon, sự kiện bà ngăn cản nghị quyết cờ vàng hay vấn đề bà ta đã bị hơn 5 ngàn cử tri khu vực 7 bỏ phiếu bất tín nhiệm vào ngày 3 tháng 3/2009. Vì đây là vấn đề nhân bản, nghĩa vụ lẫn nhiệm vụ của một đại diện dân khi đối diện trước một cái chết có nhiều nghi vấn. Nhưng tiếc thay vì quyền lợi cá nhân, vì tham vọng tái ứng cử vào năm 2010, vì thói “đền ơn” bà nghị viên cần phải “đền ơn cảnh sát” đã ủng hộ No recall, nên đã im lặng đạp lên máu và nước mắt của gia đình nạn nhân mà đi.
Phán quyết của Biện Lý Cuộc ngày 14/10/09, đã cho thấy cái gọi là “Dự Luật Trong Sáng, Công khai” (Sunshine Ordinance) do ông Chuck Reed đề ra là chuyện nói vậy chớ không phải vậy. Mặc dù Chuck Reed có những lời nói có vẻ thành thật trong bài xã luận của báo SJMN ngày 19 tháng 10/ 09, tựa đề: “Trường hợp Phạm cần đưa ra nhiều tiết lộ của cảnh sát hơn” (Pham case shows need for more police disclosure). Bài báo viết: “Reed nói cuồn tape 911 nên công bố để chứng minh việc nào đó, tốt hơn là không có gì, và cuồn băng nên được phổ biến sau cuộc họp của bồi thẩm đoàn…Khi cuồn tape được phổ biến, nó có thể làm sáng tỏ hoàn cảnh cảnh sát đã làm, kể cả việc Phạm bị bịnh tâm thần và mức độ được đánh giá là nguy hiểm. Báo cáo tường trình của cảnh sát sẽ làm người dân hiểu chuyện gì đã xảy ra”. Nhưng, câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao ông Chuck Reed lại không thỏa mãn nguyện vọng của gia đình nạn nhân và hàng ngàn thỉnh nguyện của cử tri VN như những điều ông đã nói trên báo SJMN trước khi có phán quyết của Biện Lý Cuộc?
Duy trì sự trong sáng công lý của một quốc gia vốn tự hào thượng tôn luật pháp là điều cần thiết. Nhưng để thực hiện điều này, thiết nghĩ Hội Đồng Thành Phố, Sở cảnh sát và Văn phòng Biện lý Santa Clara nên theo nguyện vọng của gia đình nạn nhân, Ban Đại Diện Cộng Đồng VN, các Đoàn thể và hàng ngàn thỉnh nguyện thư của người Mỹ gốc Việt yêu cầu chính quyền triệu tập một Bồi Thẩm Đoàn mới, làm việc công khai với những nhân chứng, vật chứng do sở cảnh sát cung cấp. Có được như vậy thì thật sự mới khiến mọi người hiểu được lời thị trưởng Chuck Reed đã nói: “The police report might lay out other circumstances that would help people understand what happened”.
* Đặng thiên Sơn (22/10/09)
Thursday, October 15, 2009
Cải tổ y tế: “ Ông Obama đã bước chân phải vào lịch sử, đang muốn thò thêm chân trái…!”
*Đặng thiên Sơn
Một trong bốn bài hát được trình bày trong buổi lễ đăng quang của tổng thống Obama, bài có ý nghĩa nhứt là bài At Last. Đây là bài hát do nhạc sĩ Mack Gordon và Harry Warren viết vào năm 1941, làm nhạc đệm cho phim Orchestra Wives. Bài này đã được nữ ca sĩ da đen Beyonce trình bày, khi ông Obama cùng vợ là bà Michelle bước ra sân khấu cùng nhảy để bắt đầu cho chương trình buổi lễ đăng quang vào ngày thứ Ba 21 tháng 01 năm 2009. Với giọng hát cất cao lanh lãnh, ca sĩ Beyonce đã diễn tả được tất cả ý nghĩa bên trong của bài hát. Mà ở đó, qua thuật ngữ, người nghe cảm nhận được sự thành đạt của con người sau một thời gian cố gắng.
Sự kiện thượng nghị sĩ Barrack Hussein Obama, dân da màu, thuộc giai cấp nô lệ. Hôm nay, nghiểm nhiên trở thành chủ nhân Tòa Bạch Ốc sau 223 (1776-2009) năm dựng nước của người da trắng, đã nói lên những gì bài At Last muốn diễn tả. Nhưng, ông Obama chưa ngừng tham vọng của mình tại đó. Ông còn muốn làm thêm một điều mà vị tổng thống tiền nhiệm Bill Clinton không làm được để bước hẳn… chân trái vào lịch sử Hoa Kỳ một cách vẻ vang hơn. Để thực hiện điều này, vừa nhậm chức với thời gian chỉ hơn nửa năm, nói nôm na là chưa ráo mực. Ông Obama đã tạo ra “cơn sốt” cho nước Mỹ qua Kế Hoạch Y Tế (Obama's Health Care Plan).
Phải nói rằng, đưa ra vấn đề cải tổ y tế lúc này, hiển nhiên Obama đang dẫn dắt quốc hội và dân chúng đi về một hướng khác. Đó là hướng Obama muốn mọi người quên đi đáp số bài toán kinh tế đang suy sụp như lời hứa lúc ra tranh cử, sau khi ông đã chi ra hết mấy ngàn tỷ đô la trong quỷ tiết kiệm, tiền hưu, tiền già của người dân.
Kế hoạch cải tổ y tế của tổng thống Obama không phải là đề tài mới, mà thuộc loại rượu cũ của tổng thống Bill Clinton, nhưng ông tổng thống này không làm được trọn vẹn để đem ra bán ngoài thị trường. Nay, Obama muốn chế biến lại và đựng trong một bình mới.
Với tình trạng thất nghiệp tràn lan, kinh tế suy thoái không biết đến chừng nào mới phục hồi. Nếu mọi người có được một bảo hiểm sức khỏe, thì còn gì bằng (?) Sự bén nhạy, tinh khôn của Barrack Obama là nhìn ra chỗ tâm lý này của con người. Tuy nhiên có bảo hiểm bằng cách nào, làm sao mà có và món hàng này của tổng thống Obama là hàng “Free” hay là hàng “On sale”? Muốn biết, xin hãy theo dõi những gì Obama trình bày.
Trong bài diễn văn đọc ngày 9 tháng 9 trước lưỡng viện quốc hội để kêu gọi sự ủng hộ của các nhà lập pháp, tổng thống Obama cho biết chính phủ sẽ thành lập một chương trình bảo hiểm y tế cho những người chưa mua bảo hiểm hoặc những ai không có chương trình Medicare hoặc Medicaid. Kế hoạch này không làm giảm quyền lợi của những người đang hưởng Medicare, mà chỉ là sự ngăn chận lãng phí, lạm dụng và gian lận. Đây là một chương trình bắt buộc, như lái xe phải mua bảo hiểm xe cộ. Người nào có lợi tức trên mức ấn định nghèo mà không mua bảo hiểm, thì sẽ bị phạt 950 đô-la một người và 3,8000 đô-la cho cả gia đình. Kế hoạch cải tổ y tế này, sẽ tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho các hãng xưỡng mua bảo hiểm cho nhân viên mình với giá rẻ. Kế hoạch sẽ đem lại cho hầu hết 45 triệu người không có bảo hiểm trở thành có bảo hiểm. Nếu dự luật được thông qua sẽ có khoảng 97% phần trăm dân Mỹ có bảo hiểm y tế. Chi phí thực hiện kế hoạch là 1,000 tỷ USD trong vòng 10 năm. Và cuối cùng ông Obama nhấn mạnh và khẳng định kế hoạch cải tổ không có ý tạo phúc lợi cho di dân bất hợp pháp trong mục đích chính trị như những kẻ xấu miệng, bảo thủ loan tin.
Trong bài diễn văn, ông Obama đã đem tên tuổi hai vị tổng thống tiền nhiệm ra vừa làm tấm chắn, vừa ngụ ý so sánh mình với hai vị tổng thống lỗi lạc kia. Đó là tổng thống thứ 32, Franklin Delano Roosevelt, thuộc đảng dân chủ. Ông Roosevelt là vị tổng thống Hoa Kỳ duy nhất đã tại chức hơn hai nhiệm kỳ từ năm 1933 đến năm 1945. Tổng thống Roosevelt được xem là một trong ba tổng thống kiệt xuất của Hoa Kỳ đứng bên cạnh các ông George Washington, vị tổng thống đầu tiên, một người không đảng phái và tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ là ông Abraham Lincoln thuộc đảng cộng hòa.
Trong thời kỳ kinh tế suy thoái của thập niên 1930, Roosevelt đã lập ra chương trình “New Deal” để cứu trợ thất nghiệp, cải tổ hệ thống kinh tế. Nhưng đáng kể nhứt trong di sản của ông là lập ra hệ thống an sinh xã hội và cuộc chỉnh lý thị trường tài chính “Wall Street”. Người thứ hai Obama đem ra làm bình phong trong bài diễn văn là tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ, ông Ronald Wilson Reagan thuộc đảng cộng hòa . Vị tổng thống này đã nỗi tiếng ngay trong bài diễn văn nhậm chức của mình ngày 20/1/1981. Ông Reagan đã nói: “Chính phủ không phải là giải pháp cho những vấn đề của chúng ta; mà chính phủ mới chính là vấn đề.” Là một tài tử đóng phim hạng B, ông Reagan bị coi là hoang tưởng khi đặt thành vấn đề “Stars War”. Nhưng trên thực tế, hiện nay, ý tưởng này của Reagan đã làm thay đổi toàn bộ cái nhìn trong chiến tranh, và cách hành xử của phần lớn thế giới. Ngoài ra, tổng thống Reagan còn đóng góp vào việc giải quyết chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản, khiến ông trở thành một trong những tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ. Ông Obama nhắc tới ông Roosevelt và Reagan là sự gián tiếp so sánh kế hoạch y tế của mình có giá trị lịch sử chẳng thua gì ai.
Cuối cùng, ông Obama đã không ngại ngùng dứt điểm bài diễn văn bằng những lời lẻ gay gắt, nẩy lửa: “Xin hiểu rõ, tôi sẽ không làm mất thì giờ vì những kẻ tính toán muốn hủy diệt kế hoạch này thay vì tán đồng nó…Tôi không đứng yên để đợi những kẻ chỉ vì đặc quyền đang xử dụng chiến thuật cổ điển để duy trì tình trạng y tế cũ”. Rồi Obama hằn học bồi thêm : “Nếu quí vị cố tình suy diễn sai lạc nội dung chương trình, tôi sẽ mời quí vị ra ngoài lề”. Và ông đã không ngần ngại nói thẳng, đối với những khuynh hướng cải cách xã hội này. Không phải ông là người đầu tiên bị chỉ trích, mà trước đó tổng thống Roosevelt đã từng bị kết án là có tư tưởng cộng sản.
Qua sự trình bày của ông Obama. Câu hỏi đặt ở đây là lấy ở đâu ra để có 1,000 tỷ đô la để thực hiện kế hoạch khi ngân khố trống rỗng, chính phủ đang in tiền không ngừng ? Để trả lời, ai cũng nhìn thấy muốn có 1,000 tỷ, chỉ còn cách duy nhứt là móc túi người dân bằng cách gia tăng các sắc thuế mà thôi. Đây cũng là lý do giải thích sự dằn co, trả treo tại quốc hội cả tháng nay và người dân xuống đường biểu tình phản đối tại nhiều nơi.
Người Mỹ là một dân tộc thích hàng “Free” và hàng “On sale”. Bảo hiểm do nhà nước quản lý với giá rẻ là giá hàng …“On sale”. Nhưng “On sale” bao nhiêu phần trăm? Kế hoạch của Obama không đưa ra được con số dù là… ước đoán. Nên đã khiến nhiều người chán ngấy và ngờ vực, đặc biệt là dân nghèo hồ nghi về miệng lưỡi của con người. Hơn nữa, lại là một người được khen là có tài ăn nói.
Phải nói rằng, hiện nay trên thế giới hệ thống y tế của Mỹ luôn đứng hàng đầu. Hàng năm chính phủ đài thọ 2 ngàn 200 tỷ đô la để lo việc chăm sóc y tế cho người dân. Con số này đã chiếm tỷ lệ 16% trong tổng số GDP quốc gia. Với số chi phí lớn lao như vậy, nhưng vẫn còn có gần 50 triệu người không có khả năng mua bảo hiểm y tế. Trong khi ấy những người có bảo hiểm, họ chỉ được hưởng một số dịch vụ nhất định không quá 25 triệu người. Như vậy thử hỏi, phải chăng kế hoạch y tế của Obama trong 10 năm tốn 1,000 tỷ để đem đến bảo hiểm đến cho mọi người là chuyện nói vậy nhưng không phải vậy? Nói vậy nhưng không phải vậy hàm ý đề cập đến việc không đúng với sự thật. Lý thuyết cộng sản đưa ra “làm theo năng xuất, hưởng theo nhu cầu” nghe qua rất hấp dẫn, nhưng là cái bánh vẽ. Vì nếu là bánh thực, thì không còn có ai cố gắng để làm việc.
Bánh vẻ lúc nào trông cũng ngon, đẹp mắt. Lời nói đường mật bao giờ nghe cũng bùi tai cho dù là lời nói dối, nhưng người ta vẫn thích nghe. Rồi đây, kế hoạch y tế của tổng thống Obama nếu được quốc hội thông qua có tốt đẹp như ý muốn của mọi người, hay chỉ là bánh vẻ thì thời gian sẽ trả lời. Nhưng nhìn hình ảnh gia đình bốn người da màu đứng trước một toà nhà trắng toát, người ta không thể phủ nhận đó là tấm gương phản chiếu hình ảnh mầu nhiệm, tuyệt vời của thể chế dân chủ, tự do. Đây là giá trị tuyệt đối trong tương đối mà mọi sắc dân đang cư ngụ tại Hoa Kỳ cần học hỏi, trong đó có thế hệ thứ hai của Cộng Đồng Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại.
• Đặng thiên Sơn (14/10/09)
Một trong bốn bài hát được trình bày trong buổi lễ đăng quang của tổng thống Obama, bài có ý nghĩa nhứt là bài At Last. Đây là bài hát do nhạc sĩ Mack Gordon và Harry Warren viết vào năm 1941, làm nhạc đệm cho phim Orchestra Wives. Bài này đã được nữ ca sĩ da đen Beyonce trình bày, khi ông Obama cùng vợ là bà Michelle bước ra sân khấu cùng nhảy để bắt đầu cho chương trình buổi lễ đăng quang vào ngày thứ Ba 21 tháng 01 năm 2009. Với giọng hát cất cao lanh lãnh, ca sĩ Beyonce đã diễn tả được tất cả ý nghĩa bên trong của bài hát. Mà ở đó, qua thuật ngữ, người nghe cảm nhận được sự thành đạt của con người sau một thời gian cố gắng.
Sự kiện thượng nghị sĩ Barrack Hussein Obama, dân da màu, thuộc giai cấp nô lệ. Hôm nay, nghiểm nhiên trở thành chủ nhân Tòa Bạch Ốc sau 223 (1776-2009) năm dựng nước của người da trắng, đã nói lên những gì bài At Last muốn diễn tả. Nhưng, ông Obama chưa ngừng tham vọng của mình tại đó. Ông còn muốn làm thêm một điều mà vị tổng thống tiền nhiệm Bill Clinton không làm được để bước hẳn… chân trái vào lịch sử Hoa Kỳ một cách vẻ vang hơn. Để thực hiện điều này, vừa nhậm chức với thời gian chỉ hơn nửa năm, nói nôm na là chưa ráo mực. Ông Obama đã tạo ra “cơn sốt” cho nước Mỹ qua Kế Hoạch Y Tế (Obama's Health Care Plan).
Phải nói rằng, đưa ra vấn đề cải tổ y tế lúc này, hiển nhiên Obama đang dẫn dắt quốc hội và dân chúng đi về một hướng khác. Đó là hướng Obama muốn mọi người quên đi đáp số bài toán kinh tế đang suy sụp như lời hứa lúc ra tranh cử, sau khi ông đã chi ra hết mấy ngàn tỷ đô la trong quỷ tiết kiệm, tiền hưu, tiền già của người dân.
Kế hoạch cải tổ y tế của tổng thống Obama không phải là đề tài mới, mà thuộc loại rượu cũ của tổng thống Bill Clinton, nhưng ông tổng thống này không làm được trọn vẹn để đem ra bán ngoài thị trường. Nay, Obama muốn chế biến lại và đựng trong một bình mới.
Với tình trạng thất nghiệp tràn lan, kinh tế suy thoái không biết đến chừng nào mới phục hồi. Nếu mọi người có được một bảo hiểm sức khỏe, thì còn gì bằng (?) Sự bén nhạy, tinh khôn của Barrack Obama là nhìn ra chỗ tâm lý này của con người. Tuy nhiên có bảo hiểm bằng cách nào, làm sao mà có và món hàng này của tổng thống Obama là hàng “Free” hay là hàng “On sale”? Muốn biết, xin hãy theo dõi những gì Obama trình bày.
Trong bài diễn văn đọc ngày 9 tháng 9 trước lưỡng viện quốc hội để kêu gọi sự ủng hộ của các nhà lập pháp, tổng thống Obama cho biết chính phủ sẽ thành lập một chương trình bảo hiểm y tế cho những người chưa mua bảo hiểm hoặc những ai không có chương trình Medicare hoặc Medicaid. Kế hoạch này không làm giảm quyền lợi của những người đang hưởng Medicare, mà chỉ là sự ngăn chận lãng phí, lạm dụng và gian lận. Đây là một chương trình bắt buộc, như lái xe phải mua bảo hiểm xe cộ. Người nào có lợi tức trên mức ấn định nghèo mà không mua bảo hiểm, thì sẽ bị phạt 950 đô-la một người và 3,8000 đô-la cho cả gia đình. Kế hoạch cải tổ y tế này, sẽ tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho các hãng xưỡng mua bảo hiểm cho nhân viên mình với giá rẻ. Kế hoạch sẽ đem lại cho hầu hết 45 triệu người không có bảo hiểm trở thành có bảo hiểm. Nếu dự luật được thông qua sẽ có khoảng 97% phần trăm dân Mỹ có bảo hiểm y tế. Chi phí thực hiện kế hoạch là 1,000 tỷ USD trong vòng 10 năm. Và cuối cùng ông Obama nhấn mạnh và khẳng định kế hoạch cải tổ không có ý tạo phúc lợi cho di dân bất hợp pháp trong mục đích chính trị như những kẻ xấu miệng, bảo thủ loan tin.
Trong bài diễn văn, ông Obama đã đem tên tuổi hai vị tổng thống tiền nhiệm ra vừa làm tấm chắn, vừa ngụ ý so sánh mình với hai vị tổng thống lỗi lạc kia. Đó là tổng thống thứ 32, Franklin Delano Roosevelt, thuộc đảng dân chủ. Ông Roosevelt là vị tổng thống Hoa Kỳ duy nhất đã tại chức hơn hai nhiệm kỳ từ năm 1933 đến năm 1945. Tổng thống Roosevelt được xem là một trong ba tổng thống kiệt xuất của Hoa Kỳ đứng bên cạnh các ông George Washington, vị tổng thống đầu tiên, một người không đảng phái và tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ là ông Abraham Lincoln thuộc đảng cộng hòa.
Trong thời kỳ kinh tế suy thoái của thập niên 1930, Roosevelt đã lập ra chương trình “New Deal” để cứu trợ thất nghiệp, cải tổ hệ thống kinh tế. Nhưng đáng kể nhứt trong di sản của ông là lập ra hệ thống an sinh xã hội và cuộc chỉnh lý thị trường tài chính “Wall Street”. Người thứ hai Obama đem ra làm bình phong trong bài diễn văn là tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ, ông Ronald Wilson Reagan thuộc đảng cộng hòa . Vị tổng thống này đã nỗi tiếng ngay trong bài diễn văn nhậm chức của mình ngày 20/1/1981. Ông Reagan đã nói: “Chính phủ không phải là giải pháp cho những vấn đề của chúng ta; mà chính phủ mới chính là vấn đề.” Là một tài tử đóng phim hạng B, ông Reagan bị coi là hoang tưởng khi đặt thành vấn đề “Stars War”. Nhưng trên thực tế, hiện nay, ý tưởng này của Reagan đã làm thay đổi toàn bộ cái nhìn trong chiến tranh, và cách hành xử của phần lớn thế giới. Ngoài ra, tổng thống Reagan còn đóng góp vào việc giải quyết chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản, khiến ông trở thành một trong những tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ. Ông Obama nhắc tới ông Roosevelt và Reagan là sự gián tiếp so sánh kế hoạch y tế của mình có giá trị lịch sử chẳng thua gì ai.
Cuối cùng, ông Obama đã không ngại ngùng dứt điểm bài diễn văn bằng những lời lẻ gay gắt, nẩy lửa: “Xin hiểu rõ, tôi sẽ không làm mất thì giờ vì những kẻ tính toán muốn hủy diệt kế hoạch này thay vì tán đồng nó…Tôi không đứng yên để đợi những kẻ chỉ vì đặc quyền đang xử dụng chiến thuật cổ điển để duy trì tình trạng y tế cũ”. Rồi Obama hằn học bồi thêm : “Nếu quí vị cố tình suy diễn sai lạc nội dung chương trình, tôi sẽ mời quí vị ra ngoài lề”. Và ông đã không ngần ngại nói thẳng, đối với những khuynh hướng cải cách xã hội này. Không phải ông là người đầu tiên bị chỉ trích, mà trước đó tổng thống Roosevelt đã từng bị kết án là có tư tưởng cộng sản.
Qua sự trình bày của ông Obama. Câu hỏi đặt ở đây là lấy ở đâu ra để có 1,000 tỷ đô la để thực hiện kế hoạch khi ngân khố trống rỗng, chính phủ đang in tiền không ngừng ? Để trả lời, ai cũng nhìn thấy muốn có 1,000 tỷ, chỉ còn cách duy nhứt là móc túi người dân bằng cách gia tăng các sắc thuế mà thôi. Đây cũng là lý do giải thích sự dằn co, trả treo tại quốc hội cả tháng nay và người dân xuống đường biểu tình phản đối tại nhiều nơi.
Người Mỹ là một dân tộc thích hàng “Free” và hàng “On sale”. Bảo hiểm do nhà nước quản lý với giá rẻ là giá hàng …“On sale”. Nhưng “On sale” bao nhiêu phần trăm? Kế hoạch của Obama không đưa ra được con số dù là… ước đoán. Nên đã khiến nhiều người chán ngấy và ngờ vực, đặc biệt là dân nghèo hồ nghi về miệng lưỡi của con người. Hơn nữa, lại là một người được khen là có tài ăn nói.
Phải nói rằng, hiện nay trên thế giới hệ thống y tế của Mỹ luôn đứng hàng đầu. Hàng năm chính phủ đài thọ 2 ngàn 200 tỷ đô la để lo việc chăm sóc y tế cho người dân. Con số này đã chiếm tỷ lệ 16% trong tổng số GDP quốc gia. Với số chi phí lớn lao như vậy, nhưng vẫn còn có gần 50 triệu người không có khả năng mua bảo hiểm y tế. Trong khi ấy những người có bảo hiểm, họ chỉ được hưởng một số dịch vụ nhất định không quá 25 triệu người. Như vậy thử hỏi, phải chăng kế hoạch y tế của Obama trong 10 năm tốn 1,000 tỷ để đem đến bảo hiểm đến cho mọi người là chuyện nói vậy nhưng không phải vậy? Nói vậy nhưng không phải vậy hàm ý đề cập đến việc không đúng với sự thật. Lý thuyết cộng sản đưa ra “làm theo năng xuất, hưởng theo nhu cầu” nghe qua rất hấp dẫn, nhưng là cái bánh vẽ. Vì nếu là bánh thực, thì không còn có ai cố gắng để làm việc.
Bánh vẻ lúc nào trông cũng ngon, đẹp mắt. Lời nói đường mật bao giờ nghe cũng bùi tai cho dù là lời nói dối, nhưng người ta vẫn thích nghe. Rồi đây, kế hoạch y tế của tổng thống Obama nếu được quốc hội thông qua có tốt đẹp như ý muốn của mọi người, hay chỉ là bánh vẻ thì thời gian sẽ trả lời. Nhưng nhìn hình ảnh gia đình bốn người da màu đứng trước một toà nhà trắng toát, người ta không thể phủ nhận đó là tấm gương phản chiếu hình ảnh mầu nhiệm, tuyệt vời của thể chế dân chủ, tự do. Đây là giá trị tuyệt đối trong tương đối mà mọi sắc dân đang cư ngụ tại Hoa Kỳ cần học hỏi, trong đó có thế hệ thứ hai của Cộng Đồng Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại.
• Đặng thiên Sơn (14/10/09)
Sunday, October 11, 2009
Từ nghị quyết cờ vàng, xây tượng đài tại tiểu bang Wasington đến nghị quyết 36 của Việt Cộng
•Đặng thiên Sơn
Người ta còn nhớ vào ngày 05 tháng 2 năm 2004, ông Pam Roach, Thượng nghị sĩ tiểu bang Washington đã đưa ra thảo luận tại thượng viện tiểu bang này hai nghị quyết. Nghị quyết thứ nhất, công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa là biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản. Nghị quyết thứ hai, ủng hộ dự án xây tượng đài kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền dưới thời chính phủ VNCH.
Trước quyết định này, ngày 10-2-2004, đại sứ VC là Nguyễn Tâm Chiến đã vội vả viết một văn thư dài hai trang đánh máy gởi đến văn phòng Thượng nghị Sĩ Pam Roach để phản đối. Những luận cứ Nguyễn Tâm Chiến đưa ra đã chứng tỏ sự hiểu biết nông cạn của một cán bộ ngoại giao cao cấp VC về các thể chế chính trị trên thế giới. Trong thư phản đối, Nguyễn Tâm Chiến nói lòng vòng về quan hệ Mỹ - Việt và kể những thiện chí sau ngày hai nước thiết lập bang giao. Trong thư phản đối đó có ba điểm đáng chú ý, xin tóm lược như sau:
Thứ nhứt, Nguyễn Tâm chiến nói sau 30 năm cờ vàng ba sọc đỏ không còn là biểu tượng của chính quyền nước Việt Nam Cộng Hòa nữa, nên tiểu bang Washington công nhận cờ vàng và xây dựng tượng đài là hành động phủ nhận nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - một nước có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ từ năm 1995.
Thứ hai, Nguyễn Tâm Chiến cho biết từ khi có bang giao Mỹ -Việt, Việt Nam đã làm hết sức mình để quên quá khứ, nhìn về tương lai. Vì vậy, tiểu bang Washington vinh danh cờ vàng và cho xây tượng đài là dấu hiệu khơi lại quá khứ đau buồn và làm sống dậy hận thù giữa Mỹ và Việt Cộng.
Và điều thứ ba, trơ trẽn và sống sượng hơn khi Nguyễn Tâm Chiến nham nhở nói : “Với một chính sách vững chắn, Việt Nam hoan nghênh các hoạt động tham gia của người Mỹ gốc Việt trong việc mở rộng quan hệ qua lại có lợi giữa Việt Nam - Hoa Kỳ và sự hội nhập thiết thực của họ vào giòng chính trị chính của đời sống Hoa Kỳ. Việt Nam hy vọng mạnh mẻ rằng cộng đồng người Mỹ gốc Việt với khoảng gần 50 ngàn người đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, cũng sẽ tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác (As a consistent policy, Vietnam welcomes active participation by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial relationship between Vietnam and US and their effective integration into the mainstream of the US life. It is Vietnam's strong hope that the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of whom have chosen your State as their new home, will also adopt the spirit of friendship and cooperation.). Đoạn thư này, đã cho thấy Nguyễn Tâm Chiến không biết ngượng ngùng và sống sượng khi cho rằng những người Việt tỵ nạn CS - những kẻ đã bị Việt Cộng hành hạ, bắt bớ, giam cầm và cướp đoạt tài sản đến nỗi phải bỏ nước ra đi, là một bộ phận của nước Việt Nam Cộng Sản.
Hai tuần lễ sau, ngày 23-2-2004, từ văn phòng Thượng nghị sĩ Pam Roach, ông Terrell A. Minarcin viết thư trả lời Nguyễn Tâm Chiến. Với lời lẽ nhẹ nhàng, nhưng đanh thép như cha dạy con, ông Terrell A. Minarcin đã dạy tên cán bộ ngoại giao cao cấp VC một bài học đích đáng. Và cảnh cáo VC đừng can thiệp vào nội bộ của tiểu bang Washington.
Với tư cánh là một cư dân tiểu bang Washington, ông Terrell A. Minarcin cho Nguyễn Tâm Chiến biết người dân tại tiểu bang Washington không thể nào chấp nhận lá cờ máu của VC, vì đó là lá cờ đã gây ra cuộc chiến huynh đệ tương tàn, là lá cờ mang tinh thần diệt chủng. Ông Terrell A. Minarcin còn nhấn mạnh, vinh danh cờ VC là đồng lõa với tội ác và chống nhân loại nên dân tiểu bang Washington không thể làm điều này. Còn đối với việc xây tượng đài kỷ niệm, là sự bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với những người đã cống hiến sự hy sinh cao quý cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Riêng lá cờ vàng với ba sọc đỏ, ông Terrell A. Minarcin nhận xét chẳng những tiêu biểu cho chính nghĩa quốc gia của VNCH mà còn là biểu tượng đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Cuối cùng ông Terrell A. Minarcin cảnh cáo đại sứ VC đừng xen vào vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington và của những người Mỹ gốc Việt đã đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng cho tiểu bang.
Thư trả lời của ông Terrell A. Minarcin là một cái tát nẩy lửa vào mặt Nguyễn Tâm Chiến, cũng như dạy cho tập đoàn VC biết thêm về nền chính trị Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu được chính quyền Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ hay còn gọi là chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ, là một nước cộng hoà được thành lập bởi các tiểu bang, thì Nguyễn Tâm Chiến đã không lôi cái gọi là “bang giao Mỹ-Việt” ra … “làm việc’ với Thượng nghị sĩ Pam Roach . Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu được trên bình diện quốc tế Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hay nói cách khác chính quyền Hoa Kỳ chỉ là nhân tố chủ đạo của hệ thống chính quyền quốc gia, nhưng sự tự trị của từng tiểu bang là quyền Hiến định, thì không có vụ lôi vấn đề “bang giao Việt -Mỹ” ra làm căn bản để … “khiếu kiện”. Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu “cái chung” của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là một nước theo chủ nghĩa tự do, dân chủ, nhưng “cái riêng” là người dân trực tiếp chịu ảnh hưởng và chi phối bởi nền hành chánh với ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp của tiểu bang, quận hạt và thành phố, thì không ngu ngốc đến độ phản đối việc làm của các nghị sĩ tiểu bang khi dựa vào các quyết định của chính quyền trung ương. Sự phân quyền giữa trung ương và địa phương trong chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ, đã giải thích tại sao trên đất Mỹ nơi nào có Ban Đại Diện CĐVN là nơi đó có nghị quyết vinh danh cờ vàng, và những ngày lễ nêu cao chính nghĩa quốc gia VNCH đều được chính quyền địa phương tham gia, hổ trợ.
Thất bại trước việc ngăn cản nghị quyết cờ vàng, xây tượng đài tại tiểu bang Wasington, Việt Cộng vội vả tung ra kế hoạch gây rối loạn, phá hoại sức mạnh của CĐVNHN. Kế hoạch này gọi là “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây là “Nghị quyết 36” của VC được thứ trưởng Phan Diễn ký ngày 26/3/2004. Cái gọi là “Nghị quyết 36” đã chính thức chỉ thị cho VC nằm vùng tìm cách… “thôn tính” cộng đồng người Việt hải ngoại qua các lãnh vực Văn Hoá, Xã hội, Kinh tế và Chính trị.
Để thực hiện điều này, về phương diện Văn hóa, VC đã tạo ra hàng loạt những website internet, giao lưu văn hoá, văn nghệ , phát thanh, truyền hình nữa nạc nữa mở để tuyên truyền. Đối tượng VC nhắm đến là thế hệ thứ hai của người Việt tỵ nạn CS để phổ biến những văn hoá phẩm xuyên tạc lịch sử, thần tượng hóa Hồ Chí Minh, đồng thời bôi lọ cuộc chiến chính nghĩa mà quân dân VNCH đã tham dự vào. Về xã hội, VC cho “đẻ” ra thêm bằng cách tách ra làm hai các hội tương tế, hội ái hữu đồng hương, các hệ phái tôn giáo, nhà thờ mới, chùa mới để tạo ra sự chia rẻ, mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau trong cộng đồng. Về chính trị, VC cày người vào các cơ quan chính quyền địa phương qua hệ thống du học sinh tốt nghiệp xin ở lại làm việc, kết hôn với con cái những nạn nhân cộng sản để tạo ra sự tranh chấp trong gia đình người Việt quốc gia chân chính. Mặc khác VC tung cán bộ các cấp từ Chủ tịch nước, Thủ tướng, Bộ tưởng đến tép riu ra nước ngoài vừa du hí, rữa tiền vừa để tổ chức các buổi hội thảo nối nhịp cầu thông cảm trong và ngoài nước gây rối cộng đồng người Việt hải ngoại. Về kinh tế, VC dùng tiền ăn cắp trong ngân khố quốc gia, tiền cướp đoạt tài sản của người dân đem ra nước ngoài đầu tư cạnh tranh với những cơ sở thương mại của người Việt tỵ nạn đã mồ hôi, nước mắt trong mấy mươi năm cực nhọc mới có được. Với số tiền kếch sù tư bản đỏ VC muốn khống chế kinh tế của người Việt quốc gia hải ngoại. Trong khi ấy , VC kêu gọi người hải ngoại về nước đầu tư xây dựng lại đất nước là một sự trớ trêu, mâu thuẩn không thể nói hết được.
Sau hơn 5 năm cái gọi là “Nghị quyết 36” của VC ra đời, kiểm điểm lại Việt Cộng đã thu lượm được kết quả ra sao? Để trả lời câu hỏi này, thì một điều không thể phủ nhận là Việt Cộng chẳng thu lượm được kết quả khả quan nào trên 4 lãnh vực như ý họ mong muốn.
Đến nay, khi cờ máu VC xuất hiện nơi đâu là bị hạ xuống ngay lập tức. Đến nay, các tên VC Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đi đến đâu cũng phải cúi mặt trước rừng cờ vàng, ngoại trừ bọn người buôn dân, bán nước này sang triều cống Tàu Cộng phải đi khom lưng. Đến nay, với hơn trên 130 nghị quyết vinh danh cờ vàng tại Hoa Kỳ, và việc xây dựng tượng đài vinh danh chính nghĩa VNCH nhiều nơi trên thế giới từ Âu châu, Mỹ Châu và Úc Châu mỗi ngày mỗi gia tăng, đã chứng minh cho thấy không còn nghi ngờ gì nữa về sự thất bại của VC trong việc muốn nhuộm đỏ CĐVNHN qua cái gọi là “Nghị quyết 36”. Nhưng, điều quan trọng hơn hết là hình ảnh “trăm hoa đua nở” với sự hiện diện của thế hệ thứ hai bên cạnh cha, anh trong các Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam lưu vong, đã làm mạn lưới chống cộng của người Việt quốc gia tại hải ngoại thêm vững mạnh.
Đặng thiên Sơn
(07/10/09)
Người ta còn nhớ vào ngày 05 tháng 2 năm 2004, ông Pam Roach, Thượng nghị sĩ tiểu bang Washington đã đưa ra thảo luận tại thượng viện tiểu bang này hai nghị quyết. Nghị quyết thứ nhất, công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa là biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản. Nghị quyết thứ hai, ủng hộ dự án xây tượng đài kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền dưới thời chính phủ VNCH.
Trước quyết định này, ngày 10-2-2004, đại sứ VC là Nguyễn Tâm Chiến đã vội vả viết một văn thư dài hai trang đánh máy gởi đến văn phòng Thượng nghị Sĩ Pam Roach để phản đối. Những luận cứ Nguyễn Tâm Chiến đưa ra đã chứng tỏ sự hiểu biết nông cạn của một cán bộ ngoại giao cao cấp VC về các thể chế chính trị trên thế giới. Trong thư phản đối, Nguyễn Tâm Chiến nói lòng vòng về quan hệ Mỹ - Việt và kể những thiện chí sau ngày hai nước thiết lập bang giao. Trong thư phản đối đó có ba điểm đáng chú ý, xin tóm lược như sau:
Thứ nhứt, Nguyễn Tâm chiến nói sau 30 năm cờ vàng ba sọc đỏ không còn là biểu tượng của chính quyền nước Việt Nam Cộng Hòa nữa, nên tiểu bang Washington công nhận cờ vàng và xây dựng tượng đài là hành động phủ nhận nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - một nước có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ từ năm 1995.
Thứ hai, Nguyễn Tâm Chiến cho biết từ khi có bang giao Mỹ -Việt, Việt Nam đã làm hết sức mình để quên quá khứ, nhìn về tương lai. Vì vậy, tiểu bang Washington vinh danh cờ vàng và cho xây tượng đài là dấu hiệu khơi lại quá khứ đau buồn và làm sống dậy hận thù giữa Mỹ và Việt Cộng.
Và điều thứ ba, trơ trẽn và sống sượng hơn khi Nguyễn Tâm Chiến nham nhở nói : “Với một chính sách vững chắn, Việt Nam hoan nghênh các hoạt động tham gia của người Mỹ gốc Việt trong việc mở rộng quan hệ qua lại có lợi giữa Việt Nam - Hoa Kỳ và sự hội nhập thiết thực của họ vào giòng chính trị chính của đời sống Hoa Kỳ. Việt Nam hy vọng mạnh mẻ rằng cộng đồng người Mỹ gốc Việt với khoảng gần 50 ngàn người đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, cũng sẽ tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác (As a consistent policy, Vietnam welcomes active participation by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial relationship between Vietnam and US and their effective integration into the mainstream of the US life. It is Vietnam's strong hope that the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of whom have chosen your State as their new home, will also adopt the spirit of friendship and cooperation.). Đoạn thư này, đã cho thấy Nguyễn Tâm Chiến không biết ngượng ngùng và sống sượng khi cho rằng những người Việt tỵ nạn CS - những kẻ đã bị Việt Cộng hành hạ, bắt bớ, giam cầm và cướp đoạt tài sản đến nỗi phải bỏ nước ra đi, là một bộ phận của nước Việt Nam Cộng Sản.
Hai tuần lễ sau, ngày 23-2-2004, từ văn phòng Thượng nghị sĩ Pam Roach, ông Terrell A. Minarcin viết thư trả lời Nguyễn Tâm Chiến. Với lời lẽ nhẹ nhàng, nhưng đanh thép như cha dạy con, ông Terrell A. Minarcin đã dạy tên cán bộ ngoại giao cao cấp VC một bài học đích đáng. Và cảnh cáo VC đừng can thiệp vào nội bộ của tiểu bang Washington.
Với tư cánh là một cư dân tiểu bang Washington, ông Terrell A. Minarcin cho Nguyễn Tâm Chiến biết người dân tại tiểu bang Washington không thể nào chấp nhận lá cờ máu của VC, vì đó là lá cờ đã gây ra cuộc chiến huynh đệ tương tàn, là lá cờ mang tinh thần diệt chủng. Ông Terrell A. Minarcin còn nhấn mạnh, vinh danh cờ VC là đồng lõa với tội ác và chống nhân loại nên dân tiểu bang Washington không thể làm điều này. Còn đối với việc xây tượng đài kỷ niệm, là sự bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với những người đã cống hiến sự hy sinh cao quý cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Riêng lá cờ vàng với ba sọc đỏ, ông Terrell A. Minarcin nhận xét chẳng những tiêu biểu cho chính nghĩa quốc gia của VNCH mà còn là biểu tượng đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Cuối cùng ông Terrell A. Minarcin cảnh cáo đại sứ VC đừng xen vào vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington và của những người Mỹ gốc Việt đã đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng cho tiểu bang.
Thư trả lời của ông Terrell A. Minarcin là một cái tát nẩy lửa vào mặt Nguyễn Tâm Chiến, cũng như dạy cho tập đoàn VC biết thêm về nền chính trị Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu được chính quyền Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ hay còn gọi là chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ, là một nước cộng hoà được thành lập bởi các tiểu bang, thì Nguyễn Tâm Chiến đã không lôi cái gọi là “bang giao Mỹ-Việt” ra … “làm việc’ với Thượng nghị sĩ Pam Roach . Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu được trên bình diện quốc tế Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hay nói cách khác chính quyền Hoa Kỳ chỉ là nhân tố chủ đạo của hệ thống chính quyền quốc gia, nhưng sự tự trị của từng tiểu bang là quyền Hiến định, thì không có vụ lôi vấn đề “bang giao Việt -Mỹ” ra làm căn bản để … “khiếu kiện”. Nếu Nguyễn Tâm Chiến hiểu “cái chung” của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là một nước theo chủ nghĩa tự do, dân chủ, nhưng “cái riêng” là người dân trực tiếp chịu ảnh hưởng và chi phối bởi nền hành chánh với ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp của tiểu bang, quận hạt và thành phố, thì không ngu ngốc đến độ phản đối việc làm của các nghị sĩ tiểu bang khi dựa vào các quyết định của chính quyền trung ương. Sự phân quyền giữa trung ương và địa phương trong chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ, đã giải thích tại sao trên đất Mỹ nơi nào có Ban Đại Diện CĐVN là nơi đó có nghị quyết vinh danh cờ vàng, và những ngày lễ nêu cao chính nghĩa quốc gia VNCH đều được chính quyền địa phương tham gia, hổ trợ.
Thất bại trước việc ngăn cản nghị quyết cờ vàng, xây tượng đài tại tiểu bang Wasington, Việt Cộng vội vả tung ra kế hoạch gây rối loạn, phá hoại sức mạnh của CĐVNHN. Kế hoạch này gọi là “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây là “Nghị quyết 36” của VC được thứ trưởng Phan Diễn ký ngày 26/3/2004. Cái gọi là “Nghị quyết 36” đã chính thức chỉ thị cho VC nằm vùng tìm cách… “thôn tính” cộng đồng người Việt hải ngoại qua các lãnh vực Văn Hoá, Xã hội, Kinh tế và Chính trị.
Để thực hiện điều này, về phương diện Văn hóa, VC đã tạo ra hàng loạt những website internet, giao lưu văn hoá, văn nghệ , phát thanh, truyền hình nữa nạc nữa mở để tuyên truyền. Đối tượng VC nhắm đến là thế hệ thứ hai của người Việt tỵ nạn CS để phổ biến những văn hoá phẩm xuyên tạc lịch sử, thần tượng hóa Hồ Chí Minh, đồng thời bôi lọ cuộc chiến chính nghĩa mà quân dân VNCH đã tham dự vào. Về xã hội, VC cho “đẻ” ra thêm bằng cách tách ra làm hai các hội tương tế, hội ái hữu đồng hương, các hệ phái tôn giáo, nhà thờ mới, chùa mới để tạo ra sự chia rẻ, mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau trong cộng đồng. Về chính trị, VC cày người vào các cơ quan chính quyền địa phương qua hệ thống du học sinh tốt nghiệp xin ở lại làm việc, kết hôn với con cái những nạn nhân cộng sản để tạo ra sự tranh chấp trong gia đình người Việt quốc gia chân chính. Mặc khác VC tung cán bộ các cấp từ Chủ tịch nước, Thủ tướng, Bộ tưởng đến tép riu ra nước ngoài vừa du hí, rữa tiền vừa để tổ chức các buổi hội thảo nối nhịp cầu thông cảm trong và ngoài nước gây rối cộng đồng người Việt hải ngoại. Về kinh tế, VC dùng tiền ăn cắp trong ngân khố quốc gia, tiền cướp đoạt tài sản của người dân đem ra nước ngoài đầu tư cạnh tranh với những cơ sở thương mại của người Việt tỵ nạn đã mồ hôi, nước mắt trong mấy mươi năm cực nhọc mới có được. Với số tiền kếch sù tư bản đỏ VC muốn khống chế kinh tế của người Việt quốc gia hải ngoại. Trong khi ấy , VC kêu gọi người hải ngoại về nước đầu tư xây dựng lại đất nước là một sự trớ trêu, mâu thuẩn không thể nói hết được.
Sau hơn 5 năm cái gọi là “Nghị quyết 36” của VC ra đời, kiểm điểm lại Việt Cộng đã thu lượm được kết quả ra sao? Để trả lời câu hỏi này, thì một điều không thể phủ nhận là Việt Cộng chẳng thu lượm được kết quả khả quan nào trên 4 lãnh vực như ý họ mong muốn.
Đến nay, khi cờ máu VC xuất hiện nơi đâu là bị hạ xuống ngay lập tức. Đến nay, các tên VC Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đi đến đâu cũng phải cúi mặt trước rừng cờ vàng, ngoại trừ bọn người buôn dân, bán nước này sang triều cống Tàu Cộng phải đi khom lưng. Đến nay, với hơn trên 130 nghị quyết vinh danh cờ vàng tại Hoa Kỳ, và việc xây dựng tượng đài vinh danh chính nghĩa VNCH nhiều nơi trên thế giới từ Âu châu, Mỹ Châu và Úc Châu mỗi ngày mỗi gia tăng, đã chứng minh cho thấy không còn nghi ngờ gì nữa về sự thất bại của VC trong việc muốn nhuộm đỏ CĐVNHN qua cái gọi là “Nghị quyết 36”. Nhưng, điều quan trọng hơn hết là hình ảnh “trăm hoa đua nở” với sự hiện diện của thế hệ thứ hai bên cạnh cha, anh trong các Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam lưu vong, đã làm mạn lưới chống cộng của người Việt quốc gia tại hải ngoại thêm vững mạnh.
Đặng thiên Sơn
(07/10/09)
Saturday, October 3, 2009
Chủ nghĩa CS và những kẻ bất thường trong một cộng đồng bình thường
•Đặng thiên Sơn
Trong cuốn sách viết bằng tiếng Pháp tựa đề “Le Livre Noir Du Communisme” ( Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản) dày 850 trang của nhà xuất bản Pháp Robert Laffont vào cuối năm 1997, nơi trang 4 đã thống kê số người trên thế giới bị sát hại tại các nước theo chủ nghĩa cộng sản như Liên Sô, Trung Cộng , Việt Nam, Bắc Hàn, Kamphuchia, Lào, Cuba, Mông Cổ và các nước Đông Âu … đã đưa ra nhiều chi tiết giết người rùng rợn, khủng khiếp trích ra từ những tài liệu chưa hề công bố. Số người chết khắp nơi được phân chia như sau:
- 60 triệu dân Trung Hoa
- 20 triệu dân Liên bang Sô viết Nga
- 2 triệu dân Kampuchia
- 2 triệu dân Bắc Hàn
- 1 triệu 700 ngàn dân Phi châu
- 1 triệu 500 ngàn dân A Phú Hãn
- 1 triệu dân thuộc các nước CS Đông âu
- 1 triệu dân Việt Nam
- 150 ngàn người Châu Mỹ Latin
Và 10 ngàn người khác bị giết do các phong trào CS và đảng CS không nắm quyền trên thế giới gây ra.
Trên đây chỉ là con số tổng kết khi cuốn “Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản” được xuất bản. Tới nay, mười hai năm sau, dĩ nhiên số nạn nhân bị giết vì chống lại chủ nghĩa tàn ác này tại các nước Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba còn nhiều hơn nữa. Riêng đối với Việt Nam ngoài 1 triệu người người vô tội bị Hồ chí Minh và VC sát hại, còn có hơn hai triệu người phải rời bỏ nơi chôn nhao, cắt rún sống lưu vong nơi xứ người.
Theo các tài liệu thì từ năm 1970 đến đầu năm 1975, số người Việt sống tại hải ngoại có khoảng 100 ngàn người. Đây là những người thuộc gia đình nhân viên công, tư chức làm việc cho Pháp nên đa số định cư tại Pháp. Ngoài thành phần vừa nói, còn một số nhỏ sống rãi rác tại các quốc gia Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện. Còn lại thì sống tại Hoa Kỳ, là vợ con lính Mỹ theo chồng về nước khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi chiến trường Việt Nam, và các nhân viên ngoại giao đoàn, nhân viên các hãng mậu dịch.
Sau ngày 30 tháng 4/1975, miền Nam lọt vào tay bạo quyền Việt Cộng. Hàng triệu người đã bỏ nước ra đi tìm tự do. Hành trình đi tìm tự do của người Việt Nam đã làm đảo lộn sự bình yên của thế giới, sau ngày chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt năm 1945. Hành trình này, đã viết thêm trang sử mới cho nhân loại về lòng khao khác tự do của con người. Đây là một bi hùng ca, một trang sử đầy máu và nước mắt, đã góp phần vào sử liệu thế giới về tội ác tày trời của chủ nghĩa cộng sản mà Việt Cộng đã nhúng tay vào.
Người Việt tìm tự do, được hưởng qui chế định cư trên căn bản nhân đạo tùy từng quốc gia. Riêng Hoa Kỳ là quốc gia ảnh hưởng trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, nên chính phủ này đã có những qui chế đặc biệt để giải quyết vấn nạn Việt Nam. Đầu tiên, những người Việt Nam tỵ nạn đặt chân lên Hoa Kỳ từ đảo Guam được chính phủ Hoa Kỳ cho định cư qua “Đạo luật Di Trú và Người Tỵ Nạn Đông Dương” (Indochina Migration and Refugee-Act) được Quốc Hội và Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford phê chuẩn trong tình trạng khẩn cấp.
Từ năm 1978-1980, người Việt bất kể sống chết ào ạt bỏ nước ra đi bằng mọi giá một cách liều lĩnh, đã trở thành một thảm kịch của thế kỷ 20. Thảm kịch này đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới phải rơi lệ. Trước thảm cảnh thương tâm, chính phủ Hoa Kỳ đã vội vả ban hành đạo luật “Refugee - Act” để nới rộng quy chế tỵ nạn. Đạo luật đã đem lại nhiều thuận lợi cho người Việt tạo dựng lại đời sống nơi quê hương thứ hai.
Vào năm 1989, khi Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn tại Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Hồng Kông. Số người vượt biên, vượt biển giảm dần và số người định cư tại Hoa Kỳ theo ngã này cũng từ từ chấm dứt. Tuy nhiên, ba hình thức định cư mới được mở ra. Đó là chương trình ra đi có trật tự ODP ( Orderly Departure Program), diện con Lai (Home Coming -Act) và diện H.O (Humanitarian Operation).
Người Việt Nam bỏ nước ra đi vì không chấp nhận chế độ Việt Cộng gian ác. Tư tưởng chính trị của họ đối lập với chủ nghĩa cộng sản nên họ định cư tại hải ngoại dưới danh nghĩa “tỵ nạn chính trị”. Với danh nghĩa này, cộng đồng VN hải ngoại trở thành Cộng Đồng Chống Cộng là điều tất yếu. Do đó, những cá nhân, những tổ chức, những đảng phái có những hành động và lời nói chống lại Cộng Đồng Chống Cộng, thì đây là những thành phần bất thường trong một cộng đồng bình thường.
Sinh hoạt Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại trên phương diện chính trị, là những sinh hoạt luôn nêu cao cờ vàng chính nghĩa ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ hoàn cảnh nào có thể được. Đây là hình ảnh trong tháng 9/2009 vừa qua đã đập vào mặt những tên bán nước, hại dân như Nông Đức Mạnh khi đến Úc để xin xỏ, Nguyễn tấn Dũng đến Đan Mạnh để cầu thân, và Nguyễn Minh Triết đến LHQ để… nói láo.
Nếu trong Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại có những thanh niên bình thường luật sư Trúc Celine Phạm vinh danh cờ vàng, cám ơn chính phủ Đức trong ngày lịch sử khánh thành tượng đài thuyền nhân tại hải cảng Humburg kỷ niệm ngày con tàu nhân đạo Cap Anamur ra khơi cứu người vượt biển. Các thiếu nữ trí thức trẻ trong BCH /CĐVN tại Boston, Massachusetts như Nguyễn Thị Cúc Nhật, Trần Đỗ Ngọc Lan, Trần Nguyên Anh đấu tranh cho nghị quyết cờ vàng. Các bác sĩ, luật sư, dược sĩ, kỷ sư, cử nhân, tiến sĩ trong Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc Cali tại Hoa Kỳ dấn thân xuống đường khi danh dự người Việt tỵ nạn bị chà đạp. Và Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng từ Mỹ Châu, Âu Châu, Úc Châu và hàng vạn thanh niên, thiếu nữ khác là những “trái ngọt” trong CĐVNHN thì những thanh niên, thiếu nữ bất thường như ông Brian Đoàn ở Nam Cali cặm cụi vẻ hình cờ đỏ sao vàng, nắn nót nặn tượng Hồ tặc vinh danh Việt Cộng và bà Madison Nguyễn nghị viên người Mỹ gốc Việt tại khu vực 7 thành phố San Jose, Bắc Cali tìm cách ngăn cản nghị quyết cờ vàng là những “trái đắng”, thì thật là điều mĩa mai, chua xót.
Ngoài hình thức nặn tượng Hồ tặc, ngăn cản nghị quyết cờ vàng, treo cờ máu tại các trường trung đại học, nơi du học sinh con cháu Việt Cộng theo học. Hoạt động của những kẻ bất thường chống những người chống cộng, là tiếp tay với VC tổ chức các buổi văn nghệ, giao lưu văn hóa, và các hình thức gây rối cộng đồng khác. Chẳng hạn như cái gọi là “Gặp gở Việt Nam” (Meet VietNam) dự định sẽ tổ chức hai ngày 15 và 16 tháng 11, 2009 tại San Francisco, Bắc Cali, Hoa Kỳ với sự hiện diện của tên Nguyễn Thiện Nhân, Phó thủ tướng VC sắp tới . Hình thức này là sự “khiêu khích” cộng đồng người Việt QG hải ngoại. Đây là chiến thuật “ da beo”, tổ chức “bậy bạ” hết chỗ này tới chỗ kia với mục đích làm vẫn đục sự trong sạch, tạo sự bất ổn trong cộng đồng chống cộng. Việt Cộng dùng chiến thuật như vậy, để làm mệt mõi tinh thần đấu tranh của người Việt hải ngoại. Đây là kế hoạch xâm nhập, phá hoại sức mạnh CĐVNHN theo nghị quyết 36 của chúng. Nhưng chúng sẽ thất bại!
Sau mấy mươi năm lưu vong nơi đất khách quê người, thế hệ thứ nhứt Việt Nam tỵ nạn cộng sản đã bắt đầu dần dần tàn phai theo năm tháng. Thế hệ thứ hai đã đơm bông, trổ trái. Tre già măng mọc. Đó là qui luật của tạo hoá.
Nếu trong vườn cây Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại có những “trái ngọt”, thì cũng không tránh khỏi có những “trái đắng” và những con hủi, con sâu, con rầy phá phách. Đối với “trái ngọt” là thành phần trẻ, thế hệ thứ nhứt phải biết thưởng thức với sự trân quí, phải biết loại bỏ những suy nghĩ đã làm mất nước. Đối với “trái đắng”, là những kẻ đang lội ngược giòng “Lịch Sử Chống Cộng” của người Việt lưu vong, nếu không muốn nói họ đang đồng lõa với tội ác. Sự loại bỏ những “trái đắng, con sâu, con rầy” này, nếu chẳng phải là việc làm, nhiệm vụ của riêng ai, thì chắc chắn đó phải là nhiệm vụ của tất cả mọi người trong cộng đồng người Việt quốc gia chân chính.
Đặng thiên Sơn (30/09/2009)
Trong cuốn sách viết bằng tiếng Pháp tựa đề “Le Livre Noir Du Communisme” ( Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản) dày 850 trang của nhà xuất bản Pháp Robert Laffont vào cuối năm 1997, nơi trang 4 đã thống kê số người trên thế giới bị sát hại tại các nước theo chủ nghĩa cộng sản như Liên Sô, Trung Cộng , Việt Nam, Bắc Hàn, Kamphuchia, Lào, Cuba, Mông Cổ và các nước Đông Âu … đã đưa ra nhiều chi tiết giết người rùng rợn, khủng khiếp trích ra từ những tài liệu chưa hề công bố. Số người chết khắp nơi được phân chia như sau:
- 60 triệu dân Trung Hoa
- 20 triệu dân Liên bang Sô viết Nga
- 2 triệu dân Kampuchia
- 2 triệu dân Bắc Hàn
- 1 triệu 700 ngàn dân Phi châu
- 1 triệu 500 ngàn dân A Phú Hãn
- 1 triệu dân thuộc các nước CS Đông âu
- 1 triệu dân Việt Nam
- 150 ngàn người Châu Mỹ Latin
Và 10 ngàn người khác bị giết do các phong trào CS và đảng CS không nắm quyền trên thế giới gây ra.
Trên đây chỉ là con số tổng kết khi cuốn “Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản” được xuất bản. Tới nay, mười hai năm sau, dĩ nhiên số nạn nhân bị giết vì chống lại chủ nghĩa tàn ác này tại các nước Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba còn nhiều hơn nữa. Riêng đối với Việt Nam ngoài 1 triệu người người vô tội bị Hồ chí Minh và VC sát hại, còn có hơn hai triệu người phải rời bỏ nơi chôn nhao, cắt rún sống lưu vong nơi xứ người.
Theo các tài liệu thì từ năm 1970 đến đầu năm 1975, số người Việt sống tại hải ngoại có khoảng 100 ngàn người. Đây là những người thuộc gia đình nhân viên công, tư chức làm việc cho Pháp nên đa số định cư tại Pháp. Ngoài thành phần vừa nói, còn một số nhỏ sống rãi rác tại các quốc gia Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện. Còn lại thì sống tại Hoa Kỳ, là vợ con lính Mỹ theo chồng về nước khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi chiến trường Việt Nam, và các nhân viên ngoại giao đoàn, nhân viên các hãng mậu dịch.
Sau ngày 30 tháng 4/1975, miền Nam lọt vào tay bạo quyền Việt Cộng. Hàng triệu người đã bỏ nước ra đi tìm tự do. Hành trình đi tìm tự do của người Việt Nam đã làm đảo lộn sự bình yên của thế giới, sau ngày chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt năm 1945. Hành trình này, đã viết thêm trang sử mới cho nhân loại về lòng khao khác tự do của con người. Đây là một bi hùng ca, một trang sử đầy máu và nước mắt, đã góp phần vào sử liệu thế giới về tội ác tày trời của chủ nghĩa cộng sản mà Việt Cộng đã nhúng tay vào.
Người Việt tìm tự do, được hưởng qui chế định cư trên căn bản nhân đạo tùy từng quốc gia. Riêng Hoa Kỳ là quốc gia ảnh hưởng trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, nên chính phủ này đã có những qui chế đặc biệt để giải quyết vấn nạn Việt Nam. Đầu tiên, những người Việt Nam tỵ nạn đặt chân lên Hoa Kỳ từ đảo Guam được chính phủ Hoa Kỳ cho định cư qua “Đạo luật Di Trú và Người Tỵ Nạn Đông Dương” (Indochina Migration and Refugee-Act) được Quốc Hội và Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford phê chuẩn trong tình trạng khẩn cấp.
Từ năm 1978-1980, người Việt bất kể sống chết ào ạt bỏ nước ra đi bằng mọi giá một cách liều lĩnh, đã trở thành một thảm kịch của thế kỷ 20. Thảm kịch này đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới phải rơi lệ. Trước thảm cảnh thương tâm, chính phủ Hoa Kỳ đã vội vả ban hành đạo luật “Refugee - Act” để nới rộng quy chế tỵ nạn. Đạo luật đã đem lại nhiều thuận lợi cho người Việt tạo dựng lại đời sống nơi quê hương thứ hai.
Vào năm 1989, khi Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn tại Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Hồng Kông. Số người vượt biên, vượt biển giảm dần và số người định cư tại Hoa Kỳ theo ngã này cũng từ từ chấm dứt. Tuy nhiên, ba hình thức định cư mới được mở ra. Đó là chương trình ra đi có trật tự ODP ( Orderly Departure Program), diện con Lai (Home Coming -Act) và diện H.O (Humanitarian Operation).
Người Việt Nam bỏ nước ra đi vì không chấp nhận chế độ Việt Cộng gian ác. Tư tưởng chính trị của họ đối lập với chủ nghĩa cộng sản nên họ định cư tại hải ngoại dưới danh nghĩa “tỵ nạn chính trị”. Với danh nghĩa này, cộng đồng VN hải ngoại trở thành Cộng Đồng Chống Cộng là điều tất yếu. Do đó, những cá nhân, những tổ chức, những đảng phái có những hành động và lời nói chống lại Cộng Đồng Chống Cộng, thì đây là những thành phần bất thường trong một cộng đồng bình thường.
Sinh hoạt Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại trên phương diện chính trị, là những sinh hoạt luôn nêu cao cờ vàng chính nghĩa ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ hoàn cảnh nào có thể được. Đây là hình ảnh trong tháng 9/2009 vừa qua đã đập vào mặt những tên bán nước, hại dân như Nông Đức Mạnh khi đến Úc để xin xỏ, Nguyễn tấn Dũng đến Đan Mạnh để cầu thân, và Nguyễn Minh Triết đến LHQ để… nói láo.
Nếu trong Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại có những thanh niên bình thường luật sư Trúc Celine Phạm vinh danh cờ vàng, cám ơn chính phủ Đức trong ngày lịch sử khánh thành tượng đài thuyền nhân tại hải cảng Humburg kỷ niệm ngày con tàu nhân đạo Cap Anamur ra khơi cứu người vượt biển. Các thiếu nữ trí thức trẻ trong BCH /CĐVN tại Boston, Massachusetts như Nguyễn Thị Cúc Nhật, Trần Đỗ Ngọc Lan, Trần Nguyên Anh đấu tranh cho nghị quyết cờ vàng. Các bác sĩ, luật sư, dược sĩ, kỷ sư, cử nhân, tiến sĩ trong Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc Cali tại Hoa Kỳ dấn thân xuống đường khi danh dự người Việt tỵ nạn bị chà đạp. Và Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng từ Mỹ Châu, Âu Châu, Úc Châu và hàng vạn thanh niên, thiếu nữ khác là những “trái ngọt” trong CĐVNHN thì những thanh niên, thiếu nữ bất thường như ông Brian Đoàn ở Nam Cali cặm cụi vẻ hình cờ đỏ sao vàng, nắn nót nặn tượng Hồ tặc vinh danh Việt Cộng và bà Madison Nguyễn nghị viên người Mỹ gốc Việt tại khu vực 7 thành phố San Jose, Bắc Cali tìm cách ngăn cản nghị quyết cờ vàng là những “trái đắng”, thì thật là điều mĩa mai, chua xót.
Ngoài hình thức nặn tượng Hồ tặc, ngăn cản nghị quyết cờ vàng, treo cờ máu tại các trường trung đại học, nơi du học sinh con cháu Việt Cộng theo học. Hoạt động của những kẻ bất thường chống những người chống cộng, là tiếp tay với VC tổ chức các buổi văn nghệ, giao lưu văn hóa, và các hình thức gây rối cộng đồng khác. Chẳng hạn như cái gọi là “Gặp gở Việt Nam” (Meet VietNam) dự định sẽ tổ chức hai ngày 15 và 16 tháng 11, 2009 tại San Francisco, Bắc Cali, Hoa Kỳ với sự hiện diện của tên Nguyễn Thiện Nhân, Phó thủ tướng VC sắp tới . Hình thức này là sự “khiêu khích” cộng đồng người Việt QG hải ngoại. Đây là chiến thuật “ da beo”, tổ chức “bậy bạ” hết chỗ này tới chỗ kia với mục đích làm vẫn đục sự trong sạch, tạo sự bất ổn trong cộng đồng chống cộng. Việt Cộng dùng chiến thuật như vậy, để làm mệt mõi tinh thần đấu tranh của người Việt hải ngoại. Đây là kế hoạch xâm nhập, phá hoại sức mạnh CĐVNHN theo nghị quyết 36 của chúng. Nhưng chúng sẽ thất bại!
Sau mấy mươi năm lưu vong nơi đất khách quê người, thế hệ thứ nhứt Việt Nam tỵ nạn cộng sản đã bắt đầu dần dần tàn phai theo năm tháng. Thế hệ thứ hai đã đơm bông, trổ trái. Tre già măng mọc. Đó là qui luật của tạo hoá.
Nếu trong vườn cây Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại có những “trái ngọt”, thì cũng không tránh khỏi có những “trái đắng” và những con hủi, con sâu, con rầy phá phách. Đối với “trái ngọt” là thành phần trẻ, thế hệ thứ nhứt phải biết thưởng thức với sự trân quí, phải biết loại bỏ những suy nghĩ đã làm mất nước. Đối với “trái đắng”, là những kẻ đang lội ngược giòng “Lịch Sử Chống Cộng” của người Việt lưu vong, nếu không muốn nói họ đang đồng lõa với tội ác. Sự loại bỏ những “trái đắng, con sâu, con rầy” này, nếu chẳng phải là việc làm, nhiệm vụ của riêng ai, thì chắc chắn đó phải là nhiệm vụ của tất cả mọi người trong cộng đồng người Việt quốc gia chân chính.
Đặng thiên Sơn (30/09/2009)
Subscribe to:
Posts (Atom)